ĐIỀU TRỊ VÀ PH̉NG NGỪA: BỆNH TRÁI RẠ
BỆNH ZONA (DỜI LEO)
BỆNH HERPES Ở MÔI VÀ BỘ PHẬN SINH DỤC


BỆNH TRÁI RẠ

I. Bệnh trái rạ là ǵ?
Bệnh trái rạ (Varicella, Chickepox) hay c̣n gọi là bệnh thủy đậu, bệnh phỏng rạ là loại bệnh rất dễ lây nhiễm cho trẻ em dưới 10 tuổi, phần lớn bệnh phát ra từ nhỏ, người lớn ít bị bệnh này hơn. Bệnh xảy ra suốt trong năm.

II. Nguyên nhân nào gây bệnh?
Nguyên nhân gây bệnh là do một loại virut (siêu vi) có tên Varicella Zoster Virus (VZV).
VZV lây nhiễm qua người khác theo đường hô hấp như khi nói, hắt hơi, ho VZV sẽ bị bắn ra bên ngoài, người khác hít phải sẽ dễ bị nhiễm. Thông thường lúc bị nhiễm VZV đến lúc phát ra triệu chứng bệnh th́ mất khoảng 10 – 20 ngày, thời kỳ này gọi là thời kỳ ủ bệnh.

III. T́nh h́nh bệnh trái rạ hiện nay ra sao?
Bệnh trái rạ rất dễ lây nhiễm trong tập thể nhất là lớp học từ nhà trẻ cho đến cấp I, cấp II. Có khoảng 90% trẻ em bị nhiễm và phát ra bệnh trái rạ c̣n lại 10% trường hợp VZV không lây bệnh nhưng vẫn sống tiềm ẩn trong cơ thể cho đến lớn. Bệnh trái rạ thường chỉ phát ra một lần trong đời, tuy nhiên VZV sau khi xâm nhập vào có thể th́ sẽ di chuyển vào sống tiềm ẩn trong hạch thần kinh của tủy sống và có thể tái hoạt động lại dễ gây ra bệnh Zona ở người lớn hoặc bệnh trái rạ nếu người đó chưa phát ra bệnh trái rạ từ nhỏ.

IV. Dấu hiệu nhận biết bệnh trái rạ là ǵ?
Sau thời kỳ ủ bệnh, người bệnh thường bị sốt nhẹ trong 1 – 2 ngày, sau đó sẽ thấy xuất hiện một vài mụn nước hoặc bóng nước nhỏ ở trên nền da hơi sưng đỏ ở thân ḿnh hoặc trên mặt, sau đó mụn nước này dần dần xuất hiện nhiều hơn ở các vùng khác khắp toàn thân, do đó có nhiều đợt mọc liên tục trên vùng da dễ thấy nhiều tổn thương khác nhau: sẩn đỏ, mụn nước, bóng nước trong rồi đục, đóng mài vàng, lỡ da... Nếu không bị nhiễm trùng và có sức đề kháng tốt th́ bệnh sẽ khỏi trong ṿng 1 – 2 tuần mà không để lại sẹo. Bệnh c̣n phát ra ở trong miệng, họng và thường rất được quan tâm hơn.

V. Bệnh có gây biến chứng nguy hiểm không?
Rất may là bệnh trái rạ cũng ít gây ra biến chứng, ngoại trừ một thể bệnh trái rạ kèm theo xuất huyết tại chỗ th́ nặng hơn và khi bị bội nhiễm thêm vi trùng khác th́ chỗ bị bệnh sẽ bị sưng đỏ to lên, gây ngứa găi, khi lành thường bị để lại sẹo lơm, gây phiền hà về mặt tâm lư.
- Một số biến chứng có thể gặp là:
* Viêm phổi do thủy đậu với triệu chứng là khó thở, đau ngực, ho và sốt cao.
* Viêm năo do thủy đậu: với triệu chứng vật vă, quờ quạng tay chân đôi khi kèm co giật, hôn mê, một số trường hợp có thể gây tử vong hoặc để lại di chứng thần kinh lâu dài.

- Khi người mẹ mang thai trong những tháng đầu của thai kỳ nếu bị bệnh trái rạ th́ dễ gây ra hội chứng bệnh trái rạ bẩm sinh cho trẻ mới sinh ra với triệu chứng thiếu trọng lượng, sẹo ở da, tay chân ngắn, khiếm khuyết ở thần kinh và mắt như: khờ, mù... Có trường hợp trẻ sơ sinh bị trái rạ vài ngày sau sinh tử vong nhanh chóng.

VI. Điều trị và chăm sóc người bệnh như thế nào?
- Đối với trường hợp không có biến chứng:
* Cần giữ da sạch sẽ, rửa bằng thuốc tím hoặc nước muối pha loăng. Không được bôi hoặc đắp các loại lá, trái, bột ǵ khi chưa có ư kiến của bác sĩ.
* Không được bôi thuốc có chứa chất corticoid v́ thuốc này sẽ làm bệnh nặng thêm.
* Cần nghỉ ngơi, tạm thời cách ly với các trẻ em khác, cần lưu ư và virut cũng đă có thể lây trước đó 24 giờ trước khi triệu chứng trên da xuất hiện. Nên ăn uống thức ăn đồ uống nhẹ dễ tiêu, không được bắt trẻ kiêng ăn quá đáng dễ gây suy yếu cơ thể.

- Thuốc điều trị:
* Bôi tại chỗ thuốc chống nhiễm khuẩn như: Milian, Eosine, Betadin.
* Uống thuốc chống ngứa, kháng histamin khi bị ngứa.
* Uống thuốc kháng sinh khi bị bội nhiễm.
* Acyclovir dưới dạng thuốc uống giúp làm giảm độ nặng của bệnh.
* Đối với trường hợp có biến chứng cần cho nhập viện.

4. Pḥng ngừa bệnh trái rạ bằng cách nào?
- Cần tránh tiếp xúc gần gũi với người đang bị bệnh trái rạ, tuy nhiên VZV đă có thể lây nhiễm cho người khác trước khi phát ra triệu chứng bệnh.
- Cần nên cho trẻ nhỏ chưa từng bị bệnh trái rạ bao giờ tiêm thuốc chủng ngừa bệnh trái rạ, trẻ từ 9 tháng trở lên chỉ cần chích ngừa một lần, ở trẻ lớn hơn th́ cần chích ngừa 2 lần, người lớn th́ không cần chích ngừa v́ có thể nói phần lớn đă từng bị nhiễm VZV và chích ngừa trong trường hợp này chỉ tốn tiền và không mang lại hiệu quả ǵ hơn.

BỆNH ZONA

I. Bệnh Zona là ǵ?
- Bệnh Zona trong dân gian thường gọi là bệnh dời leo, là bệnh gây ra do một loại siêu vi trùng gây tổn thương ở da và thần kinh ngoại biên ở vùng da đó.

II. Nguyên nhân gây bệnh?
- Nguyên nhân gây bệnh là do một loại siêu vi trùng có tên là Varicella Zoster Virus (VZV) vừa gây bệnh trái rạ (Varicella) vừa gây bệnh Zona (Zoster). Loại siêu vi này có khả năng nằm tiềm ẩn nhiều năm dài trong hạch cảm giác của tủy sống của người bị mắc bệnh thủy đậu từ nhỏ hoặc đă từng nhiễm siêu vi nhưng chưa phát bệnh thủy đậu, sau đó siêu vi sẽ tái hoạt lại dễ phát ra bệnh Zona riêng rẽ hoặc đôi khi cũng phát ra bệnh thủy đậu đi kèm. Nguyên nhân của sự tái hoạt này có thể là do cơ thể bị suy yếu, đang bị một loại bệnh khác hoặc cơ thể đang bị một loại siêu vi khác xâm nhập vào như đang bị nhiễm HIV chẳng hạn.

III. T́nh h́nh bệnh Zona hiện nay ra sao?
Bệnh Zona chiếm khoảng 2% những người bị bệnh da đi khám bệnh ngoài da.
- Tuy nhiên theo những nghiên cứu gần đây tại BV. Da Liễu TP. HCM, Zona là một biểu hiện thường gặp nhất trong các bệnh da ở người bị nhiễm HIV đi khám bệnh và điều trị tại đây, tỷ lệ này là khoảng 7/10 ở người trẻ và trung niên bị bệnh da kèm nhiễm HIV

IV. Dấu hiệu nào giúp nhận biết bệnh Zona?

Bệnh bắt đầu bằng cảm giác đau, rát bỏng ở vùng da sắp phát ra triệu chứng. Khi bệnh nhân đi khám bệnh trong giai đoạn này, bác sĩ có thể không nhận biết ra bệnh ngay mà nghi ngờ một bệnh khác, khoảng 1 – 2 ngày sau xuất hiện vài mụn nước nhỏ mọc thành từng chùm trên nền da sưng đỏ, mụn nước từ từ xuất hiện nhiều hơn nhưng chỉ giới hạn ở một bên cơ thể, luôn luôn kèm thêm triệu chứng đau nhức ít nhiều. Mụn nước có thể tụ lại thành bóng nước to hơn lúc đầu chứa chất dịch trong sau đó đục dần, trong vài ngày mụn nước vỡ ra đóng mài màu vàng, rồi sau đó thành sẹo màu trắng hoặc thâm, ít khi không để lại vết sẹo.

Điểm đặc biệt của bệnh Zona là bệnh thường chỉ phát ra ở một nửa cơ thể, không vượt qua đường giữa, đó là đặc điểm giúp chẩn đoán chính xác bệnh, ví dụ: nửa mặt, nửa thân, nửa tứ chi. Trường hợp rất hiếm bệnh có thể phát ra ở hai bên do các nhánh nối thần kinh hoặc có thể tái phát ở người bị suy giảm miễn dịch như nhiễm HIV đă lâu.

Trung b́nh từ lúc bị phát ra triệu chứng cho đến khi lặn hết là khoảng 2 – 3 tuần, sau khi lành thành sẹo có người c̣n đau nhẹ vài ngày rồi khỏi hẳn. Trái lại ở người già, do sức đề kháng yếu nên sau khi lành ở mặt ngoài da th́ những dây thầy kinh ngoại biên bên trong vẫn c̣n bị viêm tiếp tục gây đau nhức từng cơn rất khó chịu dai dẳng khó điều trị.

Trong thời gian bị bệnh, bệnh nhân có thể bị sưng hạch ở vùng kế cận và hạch bị sưng thường mau giảm trước khi lành da.

V. Biến chứng ra sao?
- Ngoài t́nh trạng bị bội nhiễm và di chứng đau sau Zona, bệnh Zona cũng có thể gây một số biến chứng như gây liệt mặt, méo miệng, viêm giác mạc, kết mạc, gây mù ḷa, mờ mắt, gây rối loạn cảm giác ở lưỡi, tai, rất hiếm khi gây viêm năo – màng năo.

VI. Điều trị và chăm sóc như thế nào?
- Điều cần thiết đầu tiên là phải giữ vùng da sạch sẽ để tránh bội nhiễm thêm vi trùng khác làm cho bệnh nặng hơn. Rửa bằng nước muối hoặc thuốc tím pha loăng (pha thành màu hồng) là đơn giản và hiệu quả.
- Không nên bôi các loại thuốc dạng mỡ, dạng kem nhất là loại có chứa chất corticoid.
- Trong giai đoạn mới phát ra triệu chứng bệnh, không có thuốc nào có thể ngăn chận ngay sự phát triển tự nhiên của bệnh. Bệnh nhân không nên hốt hoảng lo âu làm suy yếu cơ thể.
- Không nên “đi khoán”, vẽ bùa lung tung, không được nhai và đắp đậu xanh... v́ đă có nhiều bệnh nhân phải nhập viện v́ t́nh trạng nhiễm trùng rất nặng.

1. Thuốc điều trị:
- Bôi thuốc tại chỗ để pḥng ngừa bội nhiễm như: Eosine, Betadin, Milian.
- Uống thuốc chống đau nhức như: Paracatamol, Idavac, Viatmin B1, B6, B12 liều cao.
- Thuốc kháng sinh chỉ dùng khi bị bội nhiễm.
- Dùng thuốc an thần để dễ ngủ và giảm đau.
- Acyclovir là thuốc có tác dụng tiêu diệt virut, thường nên sử dụng dưới dạng uống trong giai đoạn mới phát triệu chứng. Liều sử dụng thường là cao
Acyclovir: uống 800mg/lần x 5 lần/ngày x 7 – 10 ngày
Hiệu quả của thuốc này là giúp giảm sự lây lan và hạn chế được sự đau nhức về sau.
- Thuốc Corticoid dưới dạng uống và thuốc Carbamazepine chỉ sử dụng khi bị đau sau khi bệnh Zona đă lành và phải có sự theo dơi của bác sĩ điều trị.
- Khi bị bệnh Zona ở vùng mắt, cần nên tham khảo ư kiến của bác sĩ chuyên khoa mắt.

2. Điều lưu ư đặc biệt:
- Đối với một số đối tượng có nguy cơ bị nhiễm HIV/AIDS như tiêm chích ma túy, có quan hệ t́nh dục bừa băi hoặc có nhiều h́nh vết xâm ở da, khi bị bệnh Zona th́ cần nên xét nghiệm xem có nhiễm HIV đi kèm theo không? Zona là một biểu hiện ngoài da rất thường gặp ở người nhiễm HIV tại Việt Nam. Bệnh Zona là bệnh rất khó lây từ người này sang người khác, tuy nhiên người vừa bị Zona vừa bị nhiễm HIV th́ khả năng lây nhiễm HIV qua tổn thương tiết dịch là có thể xảy ra, do đó cần nên lưu ư.

BỆNH HERPES (MỤN RỘP)

I. Bệnh Herpes là ǵ?
Bệnh Herpes gọi là bệnh mụn rộp, là bệnh gây ra cho một loại virus (siêu vi trùng) có tên là Herpes Simplex Virus (HSV). Bệnh lây do tiếp xúc trực tiếp với HSV. Sau khi bị lây nhiễm, th́ HSV thường di chuyển vào sống tiềm ẩn ở hạch thần kinh của tủy sống, khi gặp điều kiện thuận lợi th́ HSV sẽ di chuyển ra ngoài da niêm mạc để gây ra triệu chứng bệnh. Bệnh thường hay tái đi tái lại nhiều lần trong suốt cuộc đời.

II. Có mấy loại bệnh Herpes?
Có hai loại bệnh Herpes.
- Bệnh Herpes ở môi gây ra do HSV tưp 1.
- Bệnh Herpes ở bộ phận sinh dục do HSV tưp 2.

III. Bệnh Herpes lây nhiễm như thế nào?
- Bệnh Herpes ở môi: thường lây nhiễm qua nước bọt: hôn hít, khăn lau, gần đây bệnh Herpes thường xảy ra ở người đi xâm môi thẩm mỹ (lây qua dụng cụ xâm và thuốc màu để xâm).
- Bệnh Herpes ở bộ phận sinh dục: lây qua quan hệ t́nh dục với người bị bệnh Herpes, do đó bệnh Herpes ở bộ phận sinh dục c̣n gọi là bệnh lây truyền qua đường t́nh dục.

IV. Triệu chứng bệnh ra sao?
- Bệnh Herpes ở môi: có triệu chứng là những mụn nước nhỏ mọc thành một chùm trên nền da sưng đỏ, vị trí thường gặp là ở vùng niêm mạc môi trên hoặc môi dưới tiếp giáp với vùng da kế cận: kèm theo là triệu chứng ngứa, đau rát. Bệnh kéo dài khoảng 1 tuần th́ khỏi không để lại dấu vết ǵ.
- Bệnh Herpes ở bộ phận sinh dục: triệu chứng giống như ở môi, vị trí gặp ở bộ phận sinh dục đàn ông là ở rănh qui đầu, ở đàn bà th́ gặp ở môi lớn, môi nhỏ. Bệnh cũng kéo dài khoảng 1 tuần th́ lành không để lại sẹo.

V. T́nh h́nh bệnh Herpes hiện nay như thế nào?
Cho đến nay chưa có thống kê nào tin cậy về số người bị bệnh Herpes ở Việt Nam, lư do:
- Có nhiều người bị bệnh Herpes đi khám ở bên ngoài và hiện nay chưa có thống kê về đối tượng này.
- Có nhiều người đi khám ở bệnh viện khi bị tái phát được tính lầm là số người mắc mới.
Ở Pháp, trong ṿng 10 năm, tỷ lệ nhiễm và phát bệnh Herpes tăng gấp hai lần.

VI. Bệnh Herpes có ǵ nguy hiểm không?
Nói chung bệnh Herpes hiếm khi gây biến chứng, dưới đây là những biến chứng của Herpes:
- Ở trẻ sơ sinh: khi mẹ có thai đang bị bệnh Herpes ở bộ phận sinh dục trong lúc sinh con qua đường âm đạo th́ dễ lây bệnh cho con. Trẻ có thể bị bệnh lư ở thần kinh và dễ gây tử vong.
- Ở mắt: gây mù.
- Ở năo: gây viêm năo.

VII. Diễn biến bệnh như thế nào nếu không điều trị?
Thông thường triệu chứng bệnh sẽ phát ra và tự khỏi trong ṿng khoảng 1 tuần, ngoại trừ bị nhiễm trùng thêm th́ bệnh kéo dài lâu hơn. Đối với người có t́nh trạng miễn dịch suy giảm như nhiễm HIV đi kèm chẳng hạn th́ tổn thương dễ lan rộng hơn và kéo dài hơn.

Bệnh Herpes cũng dễ tái phát khi gặp một số yếu tố kích thích HSV đang sống tiềm ẩn, yếu tố đó có thể là cơ thể đang bị một bệnh nào đó, bị stress, thức khuya nhiều, nhậu nhẹt...

VIII. Điều trị bệnh Herpes có dễ không?
Có hai cách điều trị:
- Điều trị chỗ: bôi thuốc diệt HSV
* Acyclovir dạng kem bôi. Bôi 1 ngày 5 lẩn, liên tục 5 – 7 ngày.
* Kết hợp với vệ sinh da – niêm mạc để tránh nhiễm trùng thêm.

- Điều trị toàn thân:
* Acyclovir dạng uống. Uống 1 lần 200mg, uống 5 lần mỗi ngày liên tục 7 ngày.
Thông thường bệnh đáp ứng nhanh chóng với thuốc.

IX. Pḥng ngừa như thế nào?
- Không sử dụng khăn lau chung.
- Không dùng chén đũa muỗng chung với người đang có bệnh.
- Không hôn hít, quan hệ t́nh dục bừa băi.
- Hạn chế việc đi xâm môi hoặc xâm ở bộ phận sinh dục.

X. Những điều cần lưu ư
- Bệnh Herpes là bệnh có thể pḥng ngừa được, trong trường hợp sau khi có quan hệ với người bị nhiễm HSV hoặc nghi ngờ th́ có thể uống ngay thuốc Acyclovir giống như liều điều trị. Acyclovir là thuốc an toàn giúp diệt được HSV trong giai đoạn đầu khi HSV chưa xâm nhập vào tủy sống.
- Khi bệnh đang phát ra th́ cần nghỉ ngơi, tránh lao động nặng, dễ giúp bệnh mau khỏi hơn.
- Cần rèn luyện thể lực để hạn chế số lần tái phát bệnh.
- Đối với trường hợp bệnh kéo dài lâu hoặc là lan rộng to th́ cần nên đi khám bệnh ở bác sĩ chuyên khoa.
 

BS. Huỳnh Huy Hoàng