Các biện pháp ngừa thai

ThS. BS. Đặng Lê Dung Hạnh

Bệnh viện Hùng Vương, TP.HCM

Biện pháp ngừa thai là cách sử dụng phương pháp, dụng cụ hay sản phẩm nhằm tránh hậu quả có thai của hành động sinh hoạt t́nh dục (theo wikipedia). Có nhiều biện pháp ngừa thai với các tác động khác nhau, trong đó, mục đích chính là ngăn không có sự gặp gỡ giữa trứng và tinh trùng dù có hành động giao hợp, hay muộn hơn, ngăn không cho trứng đă được thụ tinh với tinh trùng qua giao hợp làm tổ được trong ḷng tử cung và từ đó đưa đến không có hiện tượng thụ thai. Như vậy, sẽ có ba cơ chế chính của các biện pháp ngừa thai: ngăn sự hoạt động của tinh trùng, ngăn sự rụng trứng hay ngăn trứng đă thụ tinh làm tổ. Một biện pháp ngừa thai có thể chỉ sử dụng một trong ba cơ chế hay cả ba cơ chế đồng thời.

Điểm qua các biện pháp ngừa thai

Phân loại các biện pháp ngừa thai có thể theo nhiều cách: theo cơ chế tác động như kể trên, theo các cách hiện đại hay tự nhiên (hầu như không can thiệp ǵ vào bản thân người sử dụng, bằng thuốc hay bằng dụng cụ), theo giới sử dụng (nam hay nữ), theo thời hạn tác động (tác dụng tạm thời – có hồi phục hay vĩnh viễn – hầu như rất khó hồi phục).

1. Biện pháp hàng rào: tạo một hàng rào ngăn cản sự hoạt động của tinh trùng:

Bao cao su: dành cho nam giới sử dụng, bên cạnh việc ngăn tinh trùng xâm nhập vào đường sinh dục nữ trong hành động giao hợp, c̣n góp phần ngăn chặn sự lây truyền các bệnh lây truyền qua đường t́nh dục. Bao cao su thế hệ mới c̣n được tẩm thêm hóa chất diệt tinh trùng, góp phần nâng cao khả năng ngừa thai.

Hóa chất diệt tinh trùng: cho tới hiện nay, phổ biến nhất vẫn là Nonoxynol-9, với nhiều loại dạng sản phẩm như kem bôi, viên đặt âm đạo, miếng xốp (sponge) hay tấm phim. Hóa chất này khi vào âm đạo sẽ tạo một môi trường dịch sệt, có tác dụng làm đông tinh dịch, bất hoạt khả năng của tinh trùng. Rải rác, vẫn có trường hợp có thụ thai sau khi sử dụng hóa chất diệt tinh trùng (do cách dùng sai hay do chất lượng sản phẩm không đảm bảo). Tuy nhiên, các quan sát đều cho thấy chưa có t́nh trạng bất thường nào của thai nhi được phát hiện. Biện pháp này khá hiệu quả và tiện lợi, kèm theo khả năng diệt một số tác nhân bệnh lây truyền qua đường t́nh dục. Tuy nhiên, có số nhỏ người có khả năng dị ứng với các hoá chất sử dụng. Một số hóa chất khác cũng đang trong ṿng nghiên cứu như Carraguard, PRO2000, Buffergel, Dextrin 2 sulfate… nhưng có vẻ tác dụng diệt khuẩn trội hơn so với tác dụng ngừa thai.

Một số biện pháp khác không phổ biến như bao cao su dành cho nữ giới, mũ che (màng chắn) âm đạo…

2. Biện pháp nội tiết: sử dụng sản phẩm là các nội tiết tố sinh dục nữ:

Hai nội tiết tố nữ chính là Estrogen (E) và Progesterone với đặc điểm:

- Trong nửa đầu chu kỳ kinh nguyệt, chỉ có estrogen (do buồng trứng tiết ra) với nồng độ tăng dần; estrogen có vai tṛ tăng sinh lớp nội mạc tử cung(về số lượng – độ dày).

- Trong nửa sau chu kỳ, có cả estrogen và progesterone (do buồng trứng, sau khi đă rụng trứng, tiết ra; có vai tṛ giúp nội mạc tử cung phát triển về chất lượng (nhiều mạch máu nuôi, nhiều dinh dưỡng).

- Sự sút giảm đột ngột nồng độ các nội tiết tố này sẽ dẫn đến việc xuất huyết ḷng tử cung giống như kinh nguyệt.

Việc sử dụng một nồng độ E và các progestin (P- chất tổng hợp có tác dụng giống progesterone), kết hợp hay đơn thuần, thường xuyên có tác dụng ngăn chặn sự rụng trứng tự nhiên. Do đó, khi dùng biện pháp nội tiết, hiện tượng rụng trứng tạm thời bị gián đoạn; bên cạnh đó, dịch nhày cổ tử cung và lớp nội mạc tử cung cũng có một số thay đổi không thuận lợi cho việc thụ tinh và thụ thai. Đây là biện pháp có hiệu quả nhất.

Có nhiều dạng sản phẩm với nhiều dạng sử dụng trong biện pháp này:

- Thuốc viên ngừa thai: loại kết hợp E+P hay chỉ có P đơn thuần (viên thuốc dành cho người cho con bú), dạng vỉ 21 viên hay 28 viên (thêm 7 viên bổ sung sắt), cách dùng một viên mỗi ngày.

- Thuốc tiêm ngừa thai: là dạng P có tác dụng kéo dài, một mũi tiêm cho tác dụng trong 3 tháng.

- Thuốc cấy ngừa thai: cũng là dạng P có tác dụng kéo dài, que cấy vào da và tác dụng trong 3 năm.

- Các dạng P đơn thuần có thể gây vô kinh hay kinh ít, lấm tấm và kéo dài trong lúc đang sử dụng, thời gian trở lại b́nh thường (kinh nguyệt cũng như khả năng sinh sản) có thể hơi lâu hơn loại thuốc kết hợp.

Các dạng mới hiện nay: thuốc dán ngừa thai một miếng dán cho tác dụng trong 1 tuần (E+P), thuốc tiêm ngừa thai hàng tháng (E+P), ṿng có tẩm nội tiết và dùng đặt trong âm đạo – tác dụng hàng tháng (E+P).

3. Biện pháp dụng cụ: ṿng đặt tử cung

Là dụng cụ đặt trong ḷng tử cung, có vai tṛ như một dị vật, với tác dụng kêu gọi các bạch cầu đến ḷng tử cung và góp phần tiêu diệt tinh trùng, ngăn tinh trùng xâm nhập ḷng tử cung; đồng thời cũng làm biến đổi nội mạc tử cung không c̣n thuận lợi cho việc thụ thai. Có các loại ṿng: ṿng trơ, ṿng có kim loại (việc thêm kim loại, thường là đồng, sẽ làm gia tăng hoạt tính của ṿng), ṿng có nội tiết (là các progestin, góp phần làm biến đổi nội mạc tử cung).

4. Biện pháp ngừa thai vĩnh viễn:

Triệt sản nam: thắt ống dẫn tinh, đây là thủ thuật đơn giản, hầu như không gây ảnh hưởng đến sức khỏe người dùng. Ống dẫn tinh, chỉ có vai tṛ dẫn tinh trùng từ nhà máy sản xuất là tinh hoàn đến túi tinh dự trữ và phóng thích ra ngoài trong lần giao hợp. Khi thắt ống dẫn tinh, tinh trùng sản xuất ra sẽ không có đường thoát và sẽ tự tiêu biến đi, các chất nội tiết do tinh hoàn tiết ra vẫn giữ nhịp độ sản xuất như trước, vẫn sẽ được thấm vào máu và phát huy tác dụng giúp người nam vẫn có đầy đủ các đặc điểm giới tính nam.

Triệt sản nữ: thắt ống dẫn trứng, là đường thông từ ḷng tử cung ra buồng trứng, khi bị thắt, tinh trùng không c̣n đường gặp trứng. buồng trứng vẫn hoạt động b́nh thường, nội tiết tố nữ vẫn được tiết ra đều đặn, vẫn có trứng rụng hàng tháng, người phụ nữ vẫn c̣n kinh nguyệt và những đặc điểm giới tính nữ như trước khi áp dụng triệt sản.

Phẫu thuật nhằm nối các ống dẫn tinh hay ống dẫn trứng là những phẫu thuật khó (thuộc loại vi phẫu), hơn nữa, các tổ chức mô sau thời gian dài triệt sản thường đă bị xơ hóa, khả năng sinh sản sau phẫu thuật khôi phục lại thường không đạt trọn vẹn.

5. Biện pháp tự nhiên (truyền thống)

Là cách theo dơi chu kỳ rụng trứng của người phụ nữ, nhằm duy tŕ hoạt động t́nh dục trong giai đoạn không rụng trứng, để không có khả năng thụ thai. Thông thường, với người có ṿng kinh đều đặn 28-32 ngày, rụng trứng thường xảy ra khoảng ngày 14-15, giai đoạn nguy hiểm thường là 1 tuần xung quanh giai đoạn này. Dịch cổ tử cung thường nhiều, dai vào quanh ngày rụng trứng, thân nhiệt gia tăng và giữ ở mức này kéo dài từ sau rụng trứng đến khi có hành kinh. Việc theo dơi các dấu hiệu này sẽ giúp người phụ nữ t́m ra khoảng thích hợp trong chu kỳ để giao hợp. Biện pháp này hầu như không can thiệp vào tự nhiên sinh lư của người phụ nữ, tuy nhiên đ̣i hỏi sự hiểu biết và khả năng tự chủ của cặp vợ chồng.

Chọn lựa một biện pháp ngừa thai thích hợp

Mỗi biện pháp ngừa thai đều có chỉ định và chống định khác nhau, cũng như đều có tỷ lệ thất bại (do dùng đúng hay không đúng cách). Ngay như biện pháp vĩnh viễn, hiệu quả nhất, vẫn có tỷ lệ thất bại khoảng 0.1%, do người làm thủ thuật làm sai kỹ thuật, chưa thắt hết hay chưa thắt đúng “cái cần thắt”, cũng có khi do cơ địa người dùng, vết thương đă tự hàn gắn lại những “chia cắt” của thủ thuật.

Các tác dụng phụ của các biện pháp ngừa thai có thể là tác dụng có lợi (thường được người quảng cáo sản phẩm sử dụng trong các chiến dịch tuyên truyền cho sản phẩm) hay không có lợi, nói chung được xếp vào các nhóm sau:

- Tác dụng trên chu kỳ kinh nguyệt: làm kinh nguyệt điều ḥa (thuốc ngừa thai viên kết hợp dạng uống) hay gây rối loạn kinh nguyệt (vô kinh trong thuốc tiêm ngừa thai).

- Tác dụng trên chuyển hóa: gây giữ nước, tăng cân hay rối loạn chuyển hóa đường, mỡ hoặc có lợi khi có kèm hoạt tính kháng androgen (chống mụn); t́nh trạng loăng xương hay thiếu hụt canxi trên người dùng ngừa thai dạng P kéo dài.

- Tác dụng trên hiện tượng viêm nhiễm: ngăn ngừa bệnh lây qua đường t́nh dục

- Nguy cơ ung thư phụ khoa: ngăn ngừa ung thư hay có khả năng thúc đẩy một số dạng ung thư phụ khoa trên cơ địa một số nhóm người đặt biệt

Việc chọn lựa một biện pháp ngừa thai phải do bản thân người sử dụng, sau khi có những thông tin rơ ràng, chính xác do người trong ngành y tế tư vấn, cân nhắc và chọn lựa tuỳ theo điều kiện sức khoẻ, gia đ́nh, văn hoá, kinh tế của bản thân ḿnh, để có một biện pháp thích hợp nhất.

Sự chọn lựa này c̣n phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như:

- Hiệu quả của biện pháp ngừa thai

- Giá thành của biện pháp

- Sự sẵn có của phương pháp

- Các tác dụng phụ có lợi hay không có lợi của phương pháp

Ngoài ra, việc ảnh hưởng đến hoạt động t́nh dục và đời sống t́nh dục do sử dụng một biện pháp ngừa thai cũng là yếu tố khá quan trọng, ảnh hưởng nhiều đến quyết định chọn lựa của người phụ nữ. Đây là một vấn đề khá tế nhị mà ít có khách hàng nào mạnh dạn đề cập đến khi đi t́m thông tin về ngừa thai. Hiểu được vấn đề này sẽ giúp người tư vấn đạt hiệu quả hơn trong việc giúp chọn lựa biện pháp ngừa thai

Việc thông tin tư vấn cho phụ nữ hay các cặp vợ chồng trước khi sử dụng biện pháp ngừa thai sẽ giúp họ hiểu rơ hoàn cảnh cụ thể của ḿnh và có chọn lựa phù hợp nhất cho ḿnh. Thông tin và dịch vụ sức khoẻ hỗ trợ trong khi sử dụng biện pháp ngừa thai sẽ giúp gia tăng khả năng duy tŕ biện pháp ngừa thai đă chọn và phát huy hiệu quả của biện pháp.

Có thể nói, không có biện pháp ngừa thai nào là hữu hiệu nhất cho mọi phụ nữ, nhưng có thể chọn được một biện pháp ngừa thai thích hợp nhất cho từng người phụ nữ trong từng hoàn cảnh và thời gian cụ thể, tuỳ theo nhu cầu, điều kiện sức khoẻ, hoàn cảnh gia đ́nh, môi trường văn hoá, khả năng kinh tế… của họ. Tránh được thai kỳ không mong muốn, người phụ nữ và gia đ́nh họ có thể có thời gian và điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống cho gia đ́nh và cho bản thân người phụ nữ.