Điều trị bệnh bạch cầu măn ḍng tủy bằng thuốc ức chế men bcr-abl tyronsin kinase tại BV Truyền máu & Huyết học TP.HCM

Điều trị bệnh bạch cầu măn ḍng tủy bằng thuốc ức chế men bcr-abl tyronsin kinase tại BV Truyền máu & Huyết học TP.HCM

                                                            TS Nguyễn Thị Mỹ Ḥa
Giám đốc BV TM&HH TP.HCM.
ThS Nguyễn Tấn B́nh

Giảng viên Bộ môn Huyết học – TTĐT&BDCBYT TP.HCM

 

Đặt vấn đề

Bất thường di truyền đặc trưng của bệnh bạch cầu măn ḍng tủy (CML) là nhiễm sắc thể (NST) Philadelphia do sự chuyển đoạn nhánh dài của NST 9 và 22 , tạo ra gen BCR – ABL.Sản phẩm của gen BCR-ABL là protein tyrosine kinase hoạt hóa (p190, p210, p230…) có vai tṛ quan trọng trong việc điều ḥa sự phát triển của tế bào.

Imatinib mesylate (Gleevec) là thuốc hoạt động ức chế men BCR-ABL tyrosine kinase đạt được sự kiểm soát bệnh trong thời gian dài và có thể điều trị lành bệnh với các tác dụng phụ tối thiểu. Thuốc Imatinb mesylate được thử nghiệm lâm sàng từ năm 1998 và được FDA chấp thuận cho sử dụng trên bệnh nhân vào tháng 5/2001.

Tại Việt Nam, thuốc chưa được sử dụng rộng răi v́ rất đắt tiền. Từ tháng 8/2005 với sự tài trợ của công ty Novartis thông qua chương tŕnh GIPAP, BV Truyền máu & Huyết học (BV TM&HH) TP.HCM đă điều trị bệnh CML bằng thuốc ức chế men Imatinib mesylate trên một số bệnh nhân.

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả và tính an toàn của Imatinb mesylate trong điều trị CML giai đoạn măn có Ph (+).

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng: Các bệnh nhân được chẩn đoán CML giai đoạn măn tại BV TM&HH TP.HCM, có NST Ph(+) từ 15 tuổi trở lên, đồng thời tham gia chương tŕnh nghiên cứu. Thời gian: từ 8/2005 – 6/2007.

Bệnh nhân phải có nồng độ aminotransferase gan, billirubin huyết thanh và creatinin huyết thanh nhỏ hơn hai lần trị số b́nh thường. Bệnh nhân nữ trong tuổi sinh sản phải được đảm bảo không mang thai trước khi bắt đầu điều trị và sử dụng các phương pháp tránh thai trong suốt thời gian điều trị.

Các bệnh nhân không được đưa vào nghiên cứu khi có:

- Chỉ số ECOG từ 3 trở lên.

- Gia đ́nh hoặc bệnh nhân không đồng ư tham gia.

- Không có điều kiện tái khám thường xuyên theo lịch hẹn của bệnh viện.

Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp thực nghiệm lâm sàng, không đối chứng. Bệnh nhân được uống Imatinib Mesylate 400mg/ngày.

Các tác dụng phụ được phân độ theo tiêu chuẩn độc tính thường gặp của Viện Ung Thư quốc gia Hoa Kỳ (National Cancer Institute Common Toxicity Criteria – Version 2.0).

Nếu bệnh nhân bị các độc tính huyết học độ 3 hoặc 4: ngưng điều trị cho đến khi về lại độ 2 hoặc tốt hơn trong ṿng 2 tuần và điều trị lại liều như cũ. Nếu các độc tính huyết học độ 3, 4 kéo dài trên 2 tuần, giảm liều xuống 300mg mỗi ngày.

Các bệnh nhân thiếu máu sẽ được cân nhắc để truyền máu.

Nếu bệnh nhân bị các độc tính khác độ 2, không giải quyết được trong khi điều trị, sẽ được ngưng thuốc cho đến khi độc tính về độ 1 hoặc cải thiện tốt hơn. Nếu các độc tính xuất hiện trở lại, ngưng điều trị tiếp cho đến khi lâm sàng cải thiện và giảm liều xuống 300mg/ngày. Nếu các độc tính này xuất hiện với độ 3,4, ngưng điều trị cho đến khi độc tính về độ 1 hoặc cải thiện tốt hơn. Nếu các độc tính xuất hiện lại, ngưng điều trị tiếp cho đến khi lâm sàng cải thiện và giảm liều xuống 300mg/ngày.

Các thuốc chống ung thư khác không được chỉ định cùng lúc.

Kết quả

83 bệnh nhân chẩn đoán CML có NST Ph(+) từ 8/2005 – 6-2007 tại BV TM&HH TPHCM đă được điều trị với Hydroxyurea trước đó, được điều trị với Imatinib mesylate 400mg uống mỗi ngày.

Thời gian điều trị với Imatinib mesylate trung b́nh là 16,7 tháng (3-26 tháng), 83% bệnh nhân được điều trị ít nhất 12 tháng.

Trong số 83 bệnh nhân được điều trị có 3 bệnh nhân đă ngưng điều trị v́: 1 bệnh nhân tiến triển sang giai đoạn cấp (lúc điều trị được 9 tháng) và tử vong (lúc 15 tháng), 2 bệnh nhân bỏ tái khám (1 lúc điều trị được 9 tháng và 1 lúc điều trị được 14 tháng). 80 bệnh nhân vẫn đang điều trị với Imatinib mesylate.

Kết luận

Qua gần 2 năm theo dơi bệnh nhân CML có NST Ph(+) giai đoạn măn tính được điều trị bằng Imatinib mesylate tại BV TM&HH TP.HCM, chúng tôi nhận thấy Imatinib mesylate có hiệu quả đo đạt được tỉ lệ đáp ứng về huyết học và di truyền tế bào cao. Vào lúc 24 tháng, tỉ lệ thời gian sống không có bệnh tiến triển và tỉ lệ thời gian sống toàn bộ cao. Thuốc được dung nạp tốt v́ các tác dụng phụ không trầm trọng, có thể chấp nhận được và tự phục hồi sau khi ngưng thuốc tạm thời hoặc chỉnh liều thuốc. Điểm nổi bật trong việc áp dụng Imatinib mesylate là bệnh nhân có thể điều trị ngoại trú, không cần nằm viện và vẫn có thể làm việc sinh hoạt b́nh thường.

Trích Chuyên đề Ung bướu – Y học TP.HCM tập 11* Phụ bản của số 4* 2007