Truyền thông dân số - kế hoạch hóa gia đ́nh

Truyền thông dân số - kế hoạch hóa gia đ́nh

BS ThS Trương Trọng Hoàng

Trung tâm Truyền thông - Giáo dục Sức khỏe TP.HCM

1. Dân số, phát triển và chất lượng cuộc sống

Dân số của mỗi quốc gia hoặc mỗi địa phương thật sự có liên quan rất mật thiết đến sự phát triển của quốc gia, địa phương đó cũng như có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của người dân.

Về mặt tích cực, dân số đông đem lại nguồn lao động cho sản xuất, nhất là khi tŕnh độ cơ giới hóa, tự động hóa chưa cao. Tuy nhiên về mặt tiêu cực, dân số đông dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng nhất là khi cung không đáp ứng đủ cầu. Về mặt kinh tế, khi mà tài nguyên thiên nhiên, đầu tư cơ sở vật chất không đáp ứng kịp tỉ lệ tăng dân số, nạn thất nghiệp sẽ là một vấn đề nan giải. Từ đó dẫn đến những vấn đề như người lang thang, ăn xin thậm chí là những tệ nạn xă hội như trộm cướp, mại dâm v.v... chưa kể đến sự đổ xô của nhiều người lên thành thị làm nặng thêm những vấn đề này ở các thành phố lớn. Về mặt giáo dục, dân số tăng nhanh có thể vượt mức đáp ứng của hệ thống giáo dục cộng với điều kiện kinh tế gia đ́nh khó khăn làm tăng t́nh trạng thất học, bỏ học dẫn đến tŕnh độ dân trí trung b́nh giảm thấp, ảnh hưởng đến sự phát triển chung của xă hội cũng như chất lượng cuộc sống.

Về mặt y tế, dân số tăng nhanh vượt quá mức cung ứng sẽ dẫn đến dịch bệnh gia tăng dẫn đến giảm sức lao động, thương tật, tử vong. Hậu quả nghiêm trọng nhất của việc tăng dân số là vấn đề môi trường. Việc khai thác thiên nhiên một cách bừa băi như phá rừng lấy đất canh tác, khai thác gỗ làm chất đốt, vật dụng, khai thác thú rừng, đào quặng bừa băi v.v... đă tàn phá trầm trọng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên gián tiếp ảnh hưởng đến các rối loạn về mặt sinh thái như nạn lụt lội, hạn hán. Dân số tăng đặc biệt ở thành thị dẫn đến những vùng có mật độ dân cư cao, sống chen chúc, mất vệ sinh dẫn đến sự gia tăng các dịch bệnh. Khói thải, nước thải, rác thải làm ô nhiễm môi trường không khí, nước, đất làm trọng trầm thêm những vấn đề sức khỏe nhất là ở các đô thị hoặc khu công nghiệp. Ảnh hưởng về mặt kinh tế, giáo dục, y tế, môi trường đă tác động mạnh đến đời sống xă hội và tâm lư của người dân. Cuộc sống khó khăn dẫn đến quẫn bách hoặc xào xáo, mâu thuẫn trong gia đ́nh càng làm giảm thêm chất lượng cuộc sống.

2. Kế hoạch hóa gia đ́nh

Từ những phân tích trên, bên cạnh các biện pháp phát triển kinh tế, y tế, giáo dục, kiểm soát việc khai thác tài nguyên, phân bố dân cư hợp lư, giải quyết ô nhiễm môi trường th́ kế hoạch hóa gia đ́nh là một biện pháp căn cơ giúp giải quyết vấn đề dân số và nâng cao chất lượng cuộc sống. Kế hoạch hóa gia đ́nh ngoài mục đích hạn chế sự gia tăng dân số c̣n nhằm bảo vệ sức khỏe của người phụ nữ và trẻ em đồng thời đem lại hạnh phúc cho gia đ́nh.

- Nên sinh từ 1-2 con: sinh ít con sẽ làm giảm khả năng tai biến sản khoa, tránh sa sinh dục, bảo vệ được sức khỏe người phụ nữ tránh các t́nh trạng kém dinh dưỡng đồng thời c̣n bảo vệ vẻ đẹp của người phụ nữ.

- Khoảng cách sinh con nên từ 3-5 năm: không làm tăng thêm gánh nặng cho người phụ nữ về dinh dưỡng cũng như về sức khỏe giúp giảm suy dinh dưỡng, giăm tai biến sản khoa, giúp sinh dễ. Đồng thời người mẹ có thời gian chăm sóc trẻ, tránh bệnh tật. Không sinh khoảng cách quá xa v́ có thể đă quên kinh nghiệm nuôi con.

- Tuổi có con nên từ khoảng 22-35. Sinh lúc c̣n quá trẻ khi cơ thể chưa phát triển đầy đủ làm tăng tai biến sản khoa, tăng tỉ lệ suy dinh dưỡng cho cả mẹ và con.

3. Công tác truyền thông chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đ́nh (DS-KHHGĐ) trong cán bộ công chức, viên chức ngành y tế

Do tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề DS-KHHGĐ, nhiều chính sách, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đă được ban hành nhằm thúc đẩy công tác DS-KHHGĐ trong đó đặc biệt là công tác truyền thông vận động. Tuy nhiên v́ nhiều lư do như đă phân tích trong Thông báo kết luận của Ban Bí thư số 160-TB/TW, ngày 04 tháng 6 năm 2008 về t́nh h́nh thực hiện chính sách DS-KHHGĐ và một số giải pháp cấp bách, công tác truyền thông DS-KHHGĐ chưa đạt được những kết quả mong muốn. Các lư do có thể kể như:

- Cấp uỷ đảng và chính quyền các cấp c̣n có tư tưởng chủ quan, thoả măn, buông lỏng lănh đạo, chỉ đạo công tác dân số - kế hoạch hóa gia đ́nh; chưa quán triệt đầy đủ các nội dung Nghị quyết 47-NQ/TW, ngày 22-3-2005 của Bộ Chính trị về ''tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đ́nh''.

- Các cơ quan cấp Trung ương ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện mô h́nh tổ chức bộ máy mới c̣n chậm, dẫn tới việc mỗi địa phương hiểu và thực hiện rất khác nhau. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Dân số thiếu chặt chẽ.

- Các cấp, các ngành chưa xử lư nghiêm những cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thiếu gương mẫu, vi phạm chính sách DS-KHHGĐ gia đ́nh.

- Hệ thống tổ chức làm công tác DS-KHHGĐ gia đ́nh trong những năm qua có nhiều thay đổi, không ổn định.

- Một bộ phận nhân dân, trong đó có cả cán bộ, đảng viên cho rằng, công tác DS-KHHGĐ gia đ́nh đă kết thúc, dẫn tới việc coi nhẹ công tác này, tỉ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai giảm mạnh mà hậu quả là việc tăng sinh con.

Trước t́nh h́nh này Ban Bí thư cũng đă nêu các phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp để thực hiện tốt chính sách DS-KHHGĐ trong đó có những nội dung liên quan đến công tác truyền thông.

- Cần sớm sửa ngay Điều 10 Pháp lệnh Dân số trong năm 2008, khắc phục nhanh chóng những thiếu sót của Pháp lệnh Dân số năm 2003.

- Tuyên truyền rộng răi trong nhân dân để hiểu và thực hiện đúng chính sách dân số -kế hoạch hóa gia đ́nh của Đảng và Nhà nước.

Trên cơ sở Thông báo kết luận của Ban Bí thư số 160-TB/TW đă có những chuyển biến tích cực:

- Chính phủ đă ra Nghị quyết số 27/2008/NQ-CP ngày 25 tháng 11 năm 2008 trong đó giao Bộ Y tế chủ tŕ, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn pḥng Chính phủ tiếp thu ư kiến các thành viên Chính phủ tại phiên họp, hoàn chỉnh dự án Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 Pháp lệnh Dân số năm 2003.

- Hệ thống tổ chức làm công tác DS-KHHGĐ gia đ́nh cũng đă từng bước được kiện toàn với sự thành lập của Chi cục Dân số-KHHGĐ trực thuộc Sở Y tế.

- Tổ chức Đảng các cấp, trong đó có Đảng ủy Sở Y tế TP.Hồ Chí Minh cũng đă triển khai quán triệt cho tất cả đảng viên, cán bộ công chức, viên chức, nhân dân để hiểu và thực hiện đúng chính sách dân số -kế hoạch hóa gia đ́nh của Đảng và Nhà nước.

Về nội dung và phương pháp truyền thông về DS-KHHGĐ, Chiến lược dân số Việt Nam 2001-2010 cũng đă nhấn mạnh giải pháp Truyền thông-Giáo dục thay đổi hành vi là một phương pháp tiếp cận truyền thông hướng đến những thông điệp, h́nh thức truyền thông phù hợp và cụ thể cho từng loại đối tượng và từng giai đoạn thay đổi hành vi.

Cụ thể về nội dung phải phù hợp với tŕnh độ nhận thức, điều kiện kinh tế-xă hội của đối tượng. Về phương pháp phải đa dạng bao gồm từ những h́nh thức truyền thông đại chúng (phát thanh, truyền h́nh, báo chí) đến truyền thông trực tiếp của đội ngũ cán bộ tuyên truyền viên, các chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, đội ngũ cán bộ chuyên trách dân số, cán bộ y tế và cộng tác viên dân số. Các sản phẩm truyền thông cũng cần phải đa dạng về h́nh thức và phong phú về nội dung phù hợp với từng nhóm đối tượng.

Tóm lại, trước những chuyển biến đáng kể về luật pháp, tổ chức và định hướng hoạt động truyền thông, Trung tâm Truyền thông-Giáo dục Sức khỏe sẽ phối hợp chặt chẽ với Chi cục Dân số-KHHGĐ TP.Hồ Chí Minh để triển khai thực hiện các hoạt động truyền thông, đặc biệt chú trọng đến đối tượng cán bộ công chức, viên chức ngành y tế, theo đúng những định hướng, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước góp phần đạt được mục tiêu về DS-KHHGĐ vào năm 2010 cũng chính là góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe người dân.

12/2008