Bệnh dại - Đặc điểm dịch tễ và triệu chứng biểu hiện

Bệnh dại - Đặc điểm dịch tễ và triệu chứng biểu hiện

BS Châu Hoàng Sơn

Chương tŕnh Dại - Viện Pasteur TP.HCM

1. Đặc điểm của bệnh

Bệnh Dại là bệnh của động vật, có thể là động vật hoang dại (thường là động vật ăn thịt :cáo, chó sói , chó rừng, dơi hút máu, dơi ăn côn trùng) hoặc động vật nuôi như chó, mèo, trâu, ḅ.

Người bị mắc bệnh dại là do bị  lây truyền virus dại  qua vết cắn , vết xước do bị cắn, cào bởi động vật bị dại  (thường là động vật nuôi) .

Bệnh dại là bệnh viêm năo tủy cấp tính dẫn đến tử vong.Lúc đầu người bệnh có cảm giác đau đầu, sợ hăi, sốt, khó chịu và những thay đổi cảm giác dị thường tại  vết thương nơi  bị súc vật cắn. Bệnh tiến triển đến liệt hoặc bị liệt. Các cơ nuốt của thực quản bị co thắt khi thử nước, nên người bệnh sợ nước,  người bệnh mê sảng và co giật. Bệnh thường kéo dài từ 2 - 6 ngày rồi chết do liệt cơ hô hấp.

Chẩn đoán xác định bệnh bằng xét nghiệm kháng thể huỳnh quang đặc hiệu của tổ chức năo hoặc phân lập virus trên chuột nhắt trắng, trên hệ thống tổ chức tế bào nuôi cấy.

2. Nguyên nhân

Bệnh dại  do virus thuộc họ Rhabdo viridae, giống Lyssavirus gây nên .

3. Sự lưu hành của bệnh

 Như đă tŕnh bày trên đây, bệnh dại là bệnh của động vật. Người bị  mắc bệnh là  do nhiễm virus dại do bị súc vật cắn. Bệnh lưu hành trên toàn thế giới. Những vùng có bệnh dại thiên nhiên như: Australia, Newzealand, Nhật Bản, Hawai, Đài Loan và các đảo ở Thái B́nh Dương khác. Ngoài ra c̣n được thông báo ở miền tây Ấn Độ, Ireland, Thụy Điển…

4. Ổ chứa virus

Phần lớn ổ chứa virus dại tập trung  ở loài  chó hoang dă và chó nhà, bao gồm chó, chó sói đồng,  chó sói và chó rừng. Ngoài ra c̣n có ổ chứa ở mèo, chồn, cầy và những loài động vật có vú khác. Ở Nam Mỹ, Trung Mỹ, Mexico có ổ chứa virus ở loài dơi hút máu và dơi ăn quả.

Ở Mỹ, Canada, Châu Âu  người ta c̣n t́m thấy loài dơi ăn sâu bọ bị nhiễm virus dại. Ở những nước đang phát triển  th́ chó là ổ chứa virus dại chủ yếu. Ngoài ra c̣n có thể thấy ở thỏ, sóc , chuột….Ở Việt Nam ổ chứa chủ yếu ở chó nhà, hiếm thấy ở mèo.

5. Phương thức  lây truyền bệnh

Nước dăi mang virus của súc vật bị dại được truyền sang súc vật hoặc người cảm nhiễm qua vết cắn, có thể qua vết cào, vết rách, xước trên da hoặc rất hiếm có thể qua niêm mạc c̣n nguyên vẹn.

Sự lây truyền từ người sang người có thể xảy ra từ nước dăi của người bị bệnh có virus dại. Nhưng cần lưu ư rằng sau khi bị chó dại cắn , nếu người bị cắn chưa lên cơn dại ( nghĩa là người đó đang ở thời kỳ ủ bệnh) th́ không có khả năng làm lây nhiễm bệnh (tuy nhiên việc lây truyền bệnh từ người sang người  mới chỉ có tài liệu công bố và nguyên nhân của trường hợp này là  do cấy ghép giác mạc lấy từ người bị chết v́ dại mà không được chẩn đoán).

Sự lây truyền qua không khí chỉ được chứng minh  ở trong hang, nơi dơi ngủ và trong pḥng thí nghiệm, nhưng hiếm xảy ra.

Ở châu Mỹ-La tinh đă phát hiện sự lây truyền từ dơi hút máu bị dại đến súc vật nuôi trong nhà.

6. Thời kỳ lây truyền bệnh:

Thời kỳ lây truyền bệnh ở chó hay các súc vật khác là  3-5 ngày trước khi có triệu chứng biểu hiện bệnh và trong  suốt thời gian súc vật bị dại.

 Dơi và 1 số động vật sống hoang dại khác có thể đào thải virus dại trong những tuần lễ không có triệu chứng bệnh .

7. Tính cảm thụ và sức đề kháng:

Tất cả động vật máu nóng đều cảm nhiễm với bệnh dại. Đến nay vẫn chưa biết được tính miễn dịch tự nhiên ở người đối với bệnh .

8. Triệu chứng  biểu hiện bệnh:

-Thời kỳ ủ bệnh: thời kỳ này tương ứng với sự di chuyển và nhân lên của virus. Thời gian ủ bệnh dài hay ngắn tùy thuộc vào khoảng cách từ vị trí vết cắn đến thần kinh trung ương xa hay gần , vết cắn càng gần thần kinh trung ương thi thời gian ủ bệnh càng ngắn .

Thời gian ủ bệnh trung b́nh là 30-90 ngày ( 80% trường hợp), có những trường hợp nhanh dưới 20 ngày ( 5-10% trường hợp ) hoặc chậm hơn 3 tháng (7-20% trường hợp). Thậm chí kéo dài hơn cả năm ( 1,8% trường hợp ). Thời gian ủ bệnh ngắn nhất được t́m thấy khi vết cắn ở đầu, mặt, tay và đặc biệt là đối với trẻ em.

-Thời kỳ khởi phát: Từ 2-4 ngày trước khi phát bệnh, bệnh nhân thấy đau nhức nơi vết cắn , vết cắn bị  sưng tấy. Những dấu hiệu này lan rộng dọc theo hệ thống thần kinh và hệ thống bạch huyết .Đồng thời người bệnh c̣n có các triêu chứng  : bồn chồn, thổn thức, la hét, chán nản vô cớ .

-Thời kỳ toàn phát: Có 3 thể lâm sàng:

Thể co thắt:

-Đây là thể thường gặp nhất. Đặc điểm của thể này  là co cứng, co thắt, co giật, run các cơ kể cả cơ mặt. Co thắt hô hấp và co thắt thanh quản khiến bệnh nhân khó thở là biểu hiện tổn thương hành tủy và là triệu chứng đặc trưng của bệnh.

-Sợ nước: bệnh nhân thường rất khát nhưng khi uống nước họ bị co thắt lồng ngực, bị run câm cập. Trạng thái này qua mau nhưng để lại ân tượng  kéo dài cho bệnh nhân, v́ vậy họ không muốn uống nước mặc dù rất khát. Từ đó dẫn đến chỉ cần nh́n thấy 1 ly nước hoặc nghe tiếng nước chảy cũng sợ.

-Sợ ánh sáng: được mô tả tương tự như biểu hiện sợ nước.

 Tính cách bệnh nhân không b́nh  thường. Bệnh nhân bị phấn khích quá độ khi bị kích thích. Không phát hiện thấy dấu hiệu mất tri thức.

-Những cơn co thắt đầu tiên c̣n xa nhau, càng ngày càng  dày hơn và người bệnh  thường tử vong sau 3- 4 ngày do ngất hoặc ngạt trong một cơn co thắt sợ nước hoặc sau một cơn hôn mê.

Thể liệt:

-Thể này hiếm hơn, kém điển h́nh hơn, không có dấu hiệu phấn khích quá độ. Bệnh xuất hiện rất nhanh sau giai đoạn co thắt, run. Liệt có thể tiên phát và bắt đầu ở 1 chi hoặc 2 chi dưới rồi lan lên trên ( hội chứng Landry ) hoặc xuống dưới. Người bệnh thường bị  tử vong do ngạt nước hoặc ngất vào ngày thứ 4. Diễn tiến bệnh thường không quá 4 -10 ngày.

Thể cuồng:

Bệnh nhân bị kích thích quá độ, có những phản ứng dữ tợn, trở nên hung bạo.V́ vậy bệnh nhân thường có những hành vi không b́nh thường như chống lại y, bác sĩ và những người quanh ḿnh. Thể trạng suy sụp nhanh, hôn mê, ngất và chết.

 9.Xử trí sau khi bị súc vật cắn :

Người bị chó, mèo cắn, kể cả khi con vật đă được tiêm pḥng dại, cần xử lư ngay vết cắn bằng xà pḥng hoặc chất sát trùng. Sau đó đến  pḥng tiêm vác xin dại của viện Pasteur thành phố hoặc các trung tâm y tế dự pḥng quận/huyện  để khám và nhận điều trị dự pḥng bằng kháng huyết thanh và, hoặc vắc xin dại theo thường quy.

Chú ư theo dơi triệu chứng biểu hiện của súc vật cắn người từ 7-15 ngày để phát hiện những dấu hiệu nghi ngờ bệnh dại. Súc vật cắn người này không được giết chết. Nếu súc vật bị nhiễm virus dại trong thời gian cắn người th́ những triệu chứng dại ở súc vật đó sẽ xuất hiện khoảng 5 –7 ngày sau khi cắn với những biểu hiện thay đổi tính t́nh, chó dễ bị kích động hoặc bị liệt và chết.