Khảo sát t́nh h́nh nhiễm khuẩn và sự kháng kháng sinh của Pseudomonas aeruginosa trong nước uống tại TP.HCM

Khảo sát t́nh h́nh nhiễm khuẩn và sự kháng kháng sinh của Pseudomonas aeruginosa trong nước uống tại TP.HCM

 

Nguyễn Thị Nguyệt, Phẩm Minh Thu, P.T.Ḍng và CS, N.H.T.Trang

Pḥng Vi sinh thực phẩm và nước - Viện Pasteur TP.HCM

Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM

Đặt vấn đề

Giám sát chất lượng vi sinh của nước là một vấn đề rất cần thiết cho cộng đồng. Nước đóng vai tṛ trung gian mang những yếu tố nguy hiểm tiềm tàng như các vi khuẩn gây bệnh truyền vào cơ thể người. Chính v́ vậy vấn đề vệ sinh an toàn về nước uống ngày càng được chú trọng. P.aeruginosa là một trong những vi sinh vật đường nước, là tác nhân gây nhiễm trùng cơ hội và gây nhiễm khuẩn bệnh viện do nước rất cao.

Trên thế giới, P.aeruginosa trong nước được nghiên cứu khá nhiều. Rusin PA (1997), giám sát sự bùng phát bệnh dịch liên quan đến nước uống và nước sinh hoạt th́ P.aeruginosa chiếm 1% - 24%. Điều này chứng tỏ nước uống cũng là nguồn lây nhiễm các loại vi khuẩn gây bệnh cơ hội ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Nam 2006, theo Baumgartner cho thấy với nước uống đóng chai bao gồm nước tinh khiết và nước khoáng từ các máy làm lạnh,    P.aeruginosa có tỷ lệ nhiễm 25%.

Ở Việt Nam, kết quả kiểm tra các cơ sở sản xuất nước uống đóng chai cho thấy: năm 2004 ở TP.HCM chỉ có 4 (2,5%) trong 152 cơ sở đảm bảo điều kiện vệ sinh; năm 2005 tại Buôn Mê Thuộc có 11,8% số mẫu không đạt chỉ tiêu vi sinh kiểm tra ở 20 cơ sở. Gần đây, ở Việt Nam nhiều khảo sát trong bệnh phẩm cho thấy tính kháng kháng sinh của vi khuẩn ngày càng tăng và P.aeruginosa đă đề kháng cao với các kháng sinh thường dùng. Tuy nhiên, t́nh h́nh nhiễm P.aeruginosa cũng như tính kháng kháng sinh của vi khuẩn này trong nguồn nước chưa có nhiều nghiên cứu. Do đó, việc đánh giá t́nh h́nh vệ sinh nước uống và t́m hiểu khả năng kháng thuốc của P.aeruginosa trong nước uống là rất cần thiết, nhằm cung cấp thêm thông tin về vi khuẩn gây bệnh có trong nước uống góp phần định hướng việc sử dụng kháng sinh và pḥng ngừa được sự lan truyền vi khuẩn gây bệnh qua đường uống ảnh hưởng đến sức khỏe tiêu dùng.

Mục tiêu đề tài

+ Xác định tỷ lệ nhiễm khuẩn của nước uống theo TCVN 6096: 2004 tại TPHCM: Coliforms tổng số, Coliform faecal, Streptococci faecal, Clotridium, P.aeruginosa.

+ Xác định tỷ lệ nhiễm P.aeruginosa trong các loại nước uống.

+ Khảo sát tính đề kháng kháng sinh của vi khuẩn P.aeruginosa  phân lập được.

II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Vật liệu: 400 mẫu nước uống được thu nhận tại TP.HCM trong thời gian từ tháng 03 đến tháng 07 năm 2007 gồm 2 nhóm:

·   Nhóm nước uống đóng chai: 50 mẫu (nước uống tinh khiết và nước khoáng thiên nhiên).

·   Nhóm nước xử lư dùng để uống: 350 mẫu (tại Trường học; hộ gia đ́nh, công ty và bệnh viện, khách hàng mang đến kiểm nghiệm tại Viện Pasteur).

2. Phương pháp:

·   Phân lập vi khuẩn theo phương pháp nuôi cấy (TCVN và ISO).

·   Xác định tính kháng kháng sinh của vi khuẩn bằng phương pháp khuếch tán trên đĩa thạch Kirby Bauer và biện luận theo kết quả hướng dẫn của NCCLS-2006 với các kháng sinh: Colistin, Piperacillin, Ticarcillin/a.clavulanic, Cefoperazone, Cefsulodin, Amikacin, Ciprofloxancin, Sulfamides, Fosfomycin của hăng Biorad.

·   Kết quả được đánh giá theo TCVN 6096/2004 (không có sự hiện diện của Coliforms, C.fecal. P.aeruginnosa “P.A”, S.fecalis, Clotridia).

III. KẾT QUẢ

Phân tích 400 mẫu nước uống các loại có kết quả như sau:

1. Tỷ lệ nhiễm khuẩn của các loại nước uống.

Bảng 1: Tỷ lệ nhiễm khuẩn của các loại nước uống

 

Tên mẫu thử

 

Tổng số mẫu

Kết quả

Đạt

Không đạt

1. Nhóm nước uống đóng chai

50

40 (80%)

10 (20%)

2. Nhóm nước uống xử lư dùng để uống.

·   Nước uống trường học

·   Nước uống gia đ́nh

·   Nước uống công ty

·   Nước uống bệnh viện

350

50

50

200

50

 

47 (94%)

24 (48%)

144 (72%)

50 (100%)

 

3 (6%)

26 (52%)

56 (28%)

0 (0%)

                       Tổng cộng

400

305 (76,25%)

95 (23,75%)

Bảng 2: Tỷ lệ nhiễm từng loại vi khuẩn trong các loại nước uống

 

STT

 

Loại mẫu

Tỷ lệ vi khuẩn không đạt tiêu chuẩn vi sinh

Coliforms
(53 – 56%)

C.fecal
(41 – 46%)

S.fecalis
(12-13%)

Clostridia
(20 – 21%)

P.A
(59 – 62%)

1

Nước đóng chai (N=50)

5 (10%)

4 (8%)

1 (2%)

2 (4%)

8 (16%)

2

Nước trường học (N=50)

3 (6%)

1 (2%)

2 (4%)

2 (4%)

1 (2%)

3

Nước uống gia đ́nh (N=50)

13 (26%)

11 (22%)

4 (8%)

6 (12%)

18 (36%)

4

Nước uống công ty (N=200)

32 (16%)

25 (12,5%)

5 (2,5%)

10 (5%)

32 (16%)

5

Nước uống bệnh viện (N=50)

0 (0%)

0 (0%)

0 (0%)

0 (0%)

0 (0%)

Nhận xét:

·   Bảng 1 cho thấy mức độ nhiễm khuẩn giữa hai nhóm nước là như nhau, sự không khác biệt có ư nghĩa thống kê với P = 0,4 > 0,05.

·   Bảng 2 cho thấy đa phần nước uống đóng chai bị nhiễm P.aeruginosa kế đến là Colifonm, S.fecalis nhưng sự hiện diện của Clostridia là không đáng kể. Nước uống các công ty có tỷ lệ nhiễm Coliforms và P.aeruginosa cao. Giống như nước uống đóng chai S.fecalisClostridia chiếm tỷ lệ thấp trong các mẫu thử. Nh́n chung nước uống gia đ́nh có số mẫu không đạt các chỉ tiêu vi sinh nhiều hơn các loại nước khác chiếm 52%. Trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là P.aeruginosa, Coliforms và C.fecal. Nước uống trường học có tỷ lệ không đạt thấp nhất, trong đó cao nhất vẫn là Coliforms. Tất cả các mẫu nước uống bệnh viện đều đạt tiêu chuẩn vi sinh.

·   Nước uống gia đ́nh bị nhiễm P.aeruginosa cao nhất trong các loại nước, tiếp đến là nước uống đóng chai và nước uống công ty. Nước uống bệnh viện không t́m thấy loại vi khuẩn này.

2. Sự kháng kháng sinh của P.aeruginosa trong các loại nước uống.

 

Kháng sinh

NUĐC

NUCT

NUGĐ

S

I

R

S

I

R

S

I

R

PIP

100

0

0

100

0

0

100

0

0

TCC

100

0

0

93.8

6.3

0

100

0

0

CFP

100

0

0

93.8

6.3

0

100

0

0

CFS

75

13

12.5

87.5

9.4

3.1

83

17

0

CAZ

100

0

0

100

0

0

100

0

0

FEP

100

0

0

96.9

3.1

0

100

0

0

IPM

100

0

0

93.8

0

6.3

100

0

0

ATM

62.5

13

25

96.9

0

3.1

100

0

0

GM

100

0

0

96.9

3.1

0

89

11

0

TM

87.5

0

12.5

100

0

0

94.4

5.6

0

AN

87.5

0

12.5

96.9

3.1

0

100

0

0

CS

100

0

0

100

0

0

100

0

0

OFX

100

0

0

100

0

0

100

0

0

CIP

87.5

13

0

100

0

0

100

0

0

SSS

100

0

0

93.8

3.1

3.1

89

11

0

FOS

50

0

50

56.3

0

43.8

67

0

33

Kết quả kháng sinh đồ cho thấy hầu hết các chủng P.aeruginosa phân lập được trong nước đều nhạy cảm với tất cả các kháng sinh thử nghiệm.

Nước uống trường học chỉ có 1 trường hợp bị nhiễm P.aeruginosa và không đề kháng với tất cả kháng sinh thử nghiệm.

Nhận xét:

+ Đa số vi khuẩn nhạy cảm với kháng sinh, chỉ có một số kháng sinh bị kháng CFS, ATM, TM, AN, FOS, trong đó FOS hiếm tỷ lệ nhiễm 50%.

+ Các vi khuẩn phân lập từ nước uống công ty đều nhạy cảm với kháng sinh thử nghiệm, chỉ có fosfomycine có tỷ lệ kháng cao 43.8%.

+ Vi khuẩn phân lập từ nước uống gia đ̣nh nhạy cảm với kháng sinh thử nghiệm ngoại trừ fosfomycine bị đề kháng với tỷ lệ 33%.

IV. BÀN LUẬN

4.1. T́nh h́nh nhiễm khuẩn nước uống.

+ Tỷ lệ không đạt tiêu chuẩn vi sinh giữa các loại nước uống.

So sánh nhóm nước uống đóng chai và nước uống xử lư về mức độ nhiễm các chỉ tiêu vi sinh không có sự khác biệt (p=0.4>0.05).

Tuy nhiên, khi so sánh giữa các loại nước th́ có sự khác biệt (có ư nghĩa thống kê): nước uống bệnh việt đạt tiêu chuẩn vi sinh và nước uống trường học có tỷ lệ nhiễm khuẩn thấp, nước uống gia đ́nh nhiễm khuẩn cao nhất. Sự nhiễm này có thể do vệ sinh các chai đựng và các dụng cụ chứa nước, việc tái sử dụng các chai nhựa, đun nấu nước uống chưa kỹ hay bảo quản không tốt là một trong những nguyên nhân gây nhiễm khuẩn. Trái lại, nước uống bệnh viện ở trong môi trường có nguy cơ lây nhiễm cao nhưng trong các mẫu khảo sát đều đạt tiêu chuẩn qui định. Đây là một thông tin đáng mừng cho thấy vấn đề vệ sinh môi trường và vệ sinh nước uống trong các bệnh viện rất được chú trọng. Nước uống trường học cũng là loại nước uống bị vi phạm không nhiều (6% không đạt tiêu chuẩn) chứng tỏ vấn đề vệ sinh nước uống trong các trường học cũng rất được quan tâm. Khảo sát này cũng làm an ḷng các bậc phụ huynh v́ đa số các mẫu nước khảo sát đều được thu thập từ các trường mầm non và tiểu học.

Theo Benoit Lovesque (1994) so sánh chất lượng nước máy và nước máy được làm lạnh dùng để uống cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn của nước máy thấp hơn so với nước lấy từ các máy làm lạnh. Điều này theo tác giả các b́nh làm lạnh nước uống không được vệ sinh sạch sẽ là nơi ẩn trú cho vi sinh vật gây bệnh. Một nghiên cứu khác lại cho rằng sự nhiễm khuẩn không phải từ các b́nh lọc mà bắt nguồn từ nhà sản xuất (Baumgartner A, 2006). Do đó nước uống đóng chai dễ bị nhiễm khuẩn nếu như quy tŕnh xúc rửa, đóng chai, không đạt tiêu chuẩn qui định.

+ So sánh các chỉ tiêu không đạt giữa các nhóm và loại nước.

·   P.aeruginosa: Giữa 2 nhóm nước tỷ lệ nhiễm khuẩn không có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê (P = 0.8>0.05). Giữa các loại nước uống, tỷ lệ nhiễm P.aeruginosa trong nước uống gia đ́nh là 36% rất cao so với nước uống bệnh viện là 0% và nước uống trường học chỉ chiếm 2%. Tỷ lệ nhiễm khuẩn giữa nước uống gia đ́nh, nước uống bệnh viện và nước uống trường học rất khác nhau có ư nghĩa (P=10-7>0.001).

·   Coliforms: Giữa 2 nhóm nước tỷ lệ nhiễm Coliforms vẫn không có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê (P=0.468 > 0.05). Giữa các loại nước uống th́ tỷ lệ này lại có sự khác biệt rất có ư nghĩa (P = 0,0009 < 0.01). Trong đó, nước uống gia đ́nh lại có tỷ lệ nhiễm cao nhất 26%, nước uống công ty 16% và nước uống đóng chai 10%, nước uống trường học và bệnh viện có tỷ lệ nhiễm thấp lần lượt là 6% và 0%.

·   C.fecal: Giữa 2 nhóm nước tỷ lệ nhiễm C.fecal vẫn không có sự khác biệt có ư nghĩa thống kê (P=0.57 > 0.05). Giữa các loại nước uống th́ tỷ lệ này lại có sự khác biệt rất có ư nghĩa (P = 0,001 < 0.05). Trong đó, nước uống gia đ́nh có tỷ lệ nhiễm cao nhất 22%, nước uống công ty 13% và nước uống đóng chai 8%, nước uống trường học và bệnh viện có tỷ lệ nhiễm thấp lần lượt là 0% và 2%.

·   Clostridia và S.fecal: 2 chỉ tiêu này ít bị nhiễm nhất trong 5 chỉ tiêu khảo sát. Tỷ lệ nhiễm của từng chỉ tiêu giữa các nhóm và loại nước uống không thấy khác biệt có ư nghĩa thống kê (với P=0.73>0.05).

4.2. T́nh h́nh đề kháng kháng sinh của P.aeruginosa.

Với số mẫu xét nghiệm c̣n hạn chế (400 mẫu) và số vi khuẩn P.aeruginosa phân lập được ít (59 mẫu). Các vi khuẩn phân lập được c̣n nhạy cảm với các kháng sinh thử nghiệm. Tuy nhiên, fosfomycin là loại kháng sinh bị đề kháng nhiều nhất chiếm từ 33% đến 50% (24 mẫu).

Đối với loại nước uống đóng chai, có 3 kháng sinh đều bị đề kháng với tỷ lệ 12,5% (cefsulodin, tobramycin, amikacin). Đối với nước uống công ty, có 4 kháng sinh bị đề kháng với tỷ lệ 3,1% (ticarcillin/a.clavulanic, cefsulodin, sulfamides, aztreonam), riêng imipenem 6,3%. Đối với nước uống gia đ́nh ngoài fosfomycin, các hủng t́m thấy đều nhạy cảm với các kháng sinh thử nghiệm. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Papapetropoulou M (1994): P.aeruginosa trong nước máy và nước đóng chai không gas, đều nhạy cảm với tất cả beta-lactams, amunoglycosides, cephalosporins thế hệ III và quinolones. Điều này cho thấy P.aeruginosa phân lập được trong các mẫu nước uống nghiên cứu có thể là những chủng hoang dại không mang gen kháng kháng sinh.

Trong nghiên cứu này không ghi nhận hiện tượng đa đề kháng trên các chủng phân lập. Và nếu không có biện pháp kiểm soát tính kháng kháng sinh của các vi khuẩn trong nước uống tại Việt Nam, th́ có thể tính đề kháng của chúng trong nước uống sẽ gia tăng đáng kể và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng.

V. KẾT LUẬN

5.1. Nước uống không đạt tiêu chuẩn vi sinh: 23,75% trong đó:

·   Nước uống gia đ́nh bị nhiễm chỉ tiêu vi sinh nhiều nhất chiếm 52% mẫu kiểm tra. Kế đến là nước uống công ty 28%, nước uống đóng chai 20%, nước uống trường học 6% và nước uống bệnh viện không nhiễm bất cứ chỉ tiêu vi sinh nào.

·   P.aeruginosa là chỉ tiêu bị nhiễm nhiều nhất chiếm 62% trong 95 mẫu không đạt tiêu chuẩn. Kế đến là Coliforms 56% và C.fecal 43%. Hai chỉ tiêu c̣n lại ClostridiaS.fecalis chiếm tỷ lệ thấp lần lượt là 21% và 13%.

5.2. Kháng sinh đồ:

·   Hầu hết các chủng P.aeruginosa phân lập được từ các loại nước uống này đều nhạy cảm với các kháng sinh thử nghiệm. Ngoại trừ, fosfomycin bị kháng khá nhiều (33% - 50%). Một số kháng sinh kháng như Ticarcillin/a.clavulanic, amikacin, cefsulodin, imipenem, aztreonam, sulfamides, tobramycin cũng bị kháng nhưng tỷ lệ không đáng kể (≤ 5%). Ngoài ra, các chủng vi khuẩn thử nghiệm không có hiện tưỡng đề kháng đa kháng sinh.

·   Kết quả này tuy chưa đánh giá được hết thực trạng về t́nh h́nh nhiễm khuẩn nước uống hiện nay nhưng dù sao cũng góp phần phản ánh được t́nh h́nh nhiễm khuẩn trong một số loại nước uống nhất định. Qua đó mọi người có cái nh́n ư thức hơn trong việc sản xuất, kinh doanh cũng như sử dụng các loại nước uống nhằm đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Đồng thời góp phần định hướng cho việc sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh nhiễm trùng.

VI. ĐỀ NGHỊ:

·   Khảo sát thêm các mẫu nướ uống trong bệnh viện để có số liệu tin cậy hơn.

·   T́m hiểu cơ chế đề kháng kháng sinh của P.aeruginosa phân lập trong nước.

·   Xác định mối tương quan về sự kháng kháng sinh của P.aeruginosa phân lập trong nước uống và trong các mẫu bệnh phẩm.

·   Khảo sát tính đề kháng kháng sinh với các vi khuẩn c̣n lại trong nước uống.

Nguồn: Pḥng Vi sinh thực phẩm và nước - Viện Pasteur TP.HCM