Kết quả điều trị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt bằng phương pháp Tuna

Kết quả điều trị tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt bằng phương pháp Tuna

Vũ Lê Chuyên, Nguyễn Tuấn Vinh, Vĩnh Tuấn, Nguyễn Đạo Thuấn, Đỗ Vũ Phương
BV Bình Dân TPHCM

Đặt vấn đề

Bướu lành tuyến tuyến tiền liệt (BL TTL) là bệnh tăng sản lành tính thường gặp nhất ở nam giới. Về mô học, BL TTL chiếm tỉ lệ trên 50% nam giới ở tuổi 60, nhưng ở tuổi 80 có đến 3/4 số bệnh nhân có biểu hiện triệu chứng rối loạn chức năng đường tiểu dưới(4),(6).Hiện nay, cắt đốt nội soi tuyến tiền liệt vẫn là tiêu chuẩn vàng trong điều trị BL TTL. Mặc dù hiệu quả đạt được là rất lớn, nhưng CĐNS BL TTL có tỉ lệ biến chứng khoảng 3 -18%(6).Những biến chứng quan trọng như chảy máu, xuất tinh ngược dòng, tiểu không kiểm soát, hội chứng sau CĐNS và rối loạn tình dục. Chính những biến chứng này, đòi hỏi cần có những phương pháp điều trị khác an toàn hơn. Trong rất nhiều phương pháp điều trị BL TTL ít xâm hại, bốc hơi tuyến tiền liệt bằng kim qua niệu đạo (TUNA) sử dụng dòng điện gian mô tần số thấp, là phương pháp có nhiều ưu điểm, đặc biệt là bệnh nhân được điều trị ngoại trú. Điều trị bằng nhiệt gian mô trong bệnh lý tim mạch đã có từ lâu, những năm gần đây, TUNA đang được thực hiện trên nhiều trung tâm niệu khoa trên thế giới. Tại bệnh viện Bình Dân, TP. HCM, phương pháp điều trị này đã được tiến hành từ năm 2005. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm đánh giá tính hiệu quả và độ an toàn của phương pháp trên bệnh nhân có BL TTL. Từ đó góp phần giúp các bác sĩ niệu khoa cũng như bệnh nhân lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp cho từng hoàn cảnh cụ thể, nhằm đem lại hiệu quả tốt nhất.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng: Giữa năm 2005 đến tháng 10 năm 2007, chúng tôi thực hiện TUNA được 86 bệnh nhân. Tuy nhiên đây là phương pháp rất mới mẽ tại Việt nam, những trường hợp ban đầu chúng tôi chưa khảo sát tiêu chuẩn chặt chẽ và không theo dõi được sau thủ thuật, nên chỉ 41 bệnh nhân được lựa chọn trong nghiên cứu này.

Phương pháp : Nghiên cứu hồi cứu mô tả gồm 41 bệnh nhân được lựa chọn theo tiêu chuẩn trên.

Kết quả

Từ giữa năm 2005 đến tháng 10 năm 2007, chúng tôi thực hiện TUNA được 86 bệnh nhân. Tuy nhiên, chỉ 41 bệnh nhân được theo dõi sau thủ thuật và được chọn lựa đưa vào nghiên cứu này. Tuy nhiên, sau 6 tháng chỉ có 16 bệnh nhân tái khám. Các thông số cần theo dõi ghi nhận trước và sau điều trị được liệt kê trong bảng 1.

Bảng 1. Các thông số theo dõi bệnh nhân trước và sau thủ thuật TUNA

Thời gian theo dõi

Trung bình

Qmax (ml/giây)

Trung bình I-PSS

Trung bình QoL

Trước thủ thuật (41bn)

8,5

20,7

4,7

Sau 1 tháng

10,4

16,4

3,2

Sau 3 tháng

12,8

10,6

1,9

Sau 6 tháng (16bn)

15,2

9,8

1,04

      Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân là 72,5 (từ 55 đến 92 tuổi). Thể tích trung bình của tuyến tiền liệt là 59,4cm3 (từ 43 đến 82cm3), chiều dài trung bình của niệu đạo tuyến tiền liệt là 4,54cm (từ 3,3 đến 5,6cm). Sau điều trị 6 tháng, cải thiện điểm số I-PSS trung bình khoảng 53%, từ 20,9 còn 9,8. Cải thiện điểm số QoL trung bình khoảng 79%, từ 4,8 đến 1,04. Cải thiện trị số Qmax trung bình khoảng 80%, từ 8,3 đến 15,2. Tất cả các bệnh nhân được ra viện về nhà trong ngày có mang theo ống thông Foley niệu đạo. Bệnh nhân được rút thông niệu đạo, uống thuốc kháng sinh và giảm đau kéo dài sau điều trị khoảng 3 – 7 ngày.

 Thời gian điều trị trung bình khoảng 56 phút (30 – 80 phút). Tất cả các bệnh nhân đều chỉ được sử dụng các thuốc an thần 5 – 10mg diazepam tiêm mạch, kèm theo gel lidocain 2% bơm vào niệu đạo 10ml trong quá trình thủ thuật, 23 bệnh nhân có sử dụng thêm giảm đau bậc 3 pethidine 25 – 50mg bằng đường tĩnh mạch. Không có bệnh nhân nào phải gây mê hoặc gây tê tủy sống.

 Sau thủ thuật, hầu hết bệnh nhân đều bị tiểu máu nhẹ, tự hết sau vài ngày hoặc 2 tuần. Không có bệnh nhân nào phải truyền máu hoặc có triệu chứng rối loạn của tình trạng hấp thu dịch thủ thuật. Trung bình khoảng 2 lần thoát lưu nước bơm vào bàng quang trong quá trình thực hiện thủ thuật. Chúng tôi chưa thực hiện tắt đèn máy nội soi bàng quang trong lúc điều trị.

Các biến chứng

 36 bệnh nhân có cảm giác bỏng rát nhẹ trong niệu đạo khi thực hiện thủ thuật, tuy nhiên được giải quyết bằng thuốc giảm đau bậc 3 đường tĩnh mạch. 26 bệnh nhân có cảm giác căng tức bàng quang, cần thoát lưu nước qua niệu đạo. 17 bệnh nhân tiểu máu đại thể mức độ nhẹ, tự hết không cần nằm lại viện. Không có bệnh nhân nào có triệu chứng sốt nhiễm trùng sau thủ thuật. Một bệnh nhân 83 tuổi không bế tắc dòng tiểu dưới, nhưng có tình trạng tăng hoạt tính co bóp cơ bàng quang quá mức qua phép đo áp lực – niệu dòng, sau thủ thuật 1 tháng. Bệnh nhân này được điều trị bằng thuốc kháng đối giao cảm, và có cải thiện một phần triệu chứng tiểu gấp, tiểu lắt nhắt.

 Kết luận

 Với số lượng bệnh nhân còn ít, thời gian theo dõi chưa đủ dài, nhưng bước đầu chúng tôi cũng có thể đưa ra những nhận định từ nghiên cứu này: TUNA là phương pháp điều trị BL TTL gây bế tắc đường tiểu dưới cho kết quả an toàn và hiệu quả ít nhất là trong thời gian ngắn, khi được chỉ định chặt chẽ và chính xác. Đây là thủ thuật tối thiểu, chỉ dưới sự gây tê tại chổ, làm giảm chi phí điều trị so với những phương pháp điều trị ít xâm hại khác. Đặc biệt là phương pháp điều trị, được lựa chọn thích hợp cho những trường hợp mà tổng trạng bệnh nhân không cho phép thực hiện CĐNS BL TTL. Tuy nhiên hiệu quả về lâu về dài, cần phải có thêm nhiều nghiên cứu và thời gian theo dõi dài hơn nữa, mới đưa ra những nhận định chính xác và khách quan hơn.

Nguồn : NCKH- BV Bình Dân