|
Bệnh nhân tiểu đường nên tránh dùng kháng sinh
GATIFLOXACIN
Gatifloxacin (Tequin) thường được dùng để điều trị nhiễm
khuẩn hô hấp cấp, bao gồm viêm phổi mắc phải trong cộng đồng, đợt khởi phát cấp
của viêm phế quản mạn, viêm xoang và nhiễm khuẩn niệu. Trước đây, đã có cảnh báo
về những trường hợp hạ đường huyết hoặc tăng đường huyết có ý nghĩa lâm sàng
trên BN dùng thuốc này, thường là BN tiểu đường (Letourneau G và cs, 2003). Một
nghiên cứu bệnh chứng gần đây đã khẳng định các ảnh hưởng của thuốc gây rối loạn
đường huyết trên BN có hoặc không có tiểu đường, và đã lượng hóa nguy cơ của nó
so với các kháng sinh khác (Park-Wyllie L.Y, và cs, 2006). Do vậy, có khuyến
nghị là không được kê toa thuốc nay cho BN tiểu đường.
Gatifloxacin là một kháng sinh fluoroquinolon phổ rộng
thế hệ thứ ba, có hoạt tính chống Gram âm và Gram dương, hiếu khí và kỵ khí, và
các vi khuẩn không điển hình. Thuốc ít được biến đổi sinh học trong cơ thể và
được bài tiết qua thận.
Nghiên cứu cơ sở dữ liệu bệnh chứng gần đây trên BN > 65
tuổi đến khám ở bệnh viện tại Ontario sau khi họ bị hạ hoặc tăng đường huyết và
đã dùng một kháng sinh dạng uống thuộc họ fluoroquinolon, cephalosporin thế hệ 2
hoặc macrolid (kháng sinh đối chứng) trong tháng trước, cho thấy:
- Khả năng bị hạ đường huyết ở BN dùng gatifloxacin cao
gấp 4 lần so với macrolid. Nguy cơ của BN tiểu đường lẫn BN không tiểu đường đều
tăng do sử dụng gatifloxacin. Trong số 788 BN được điều trị hạ đường huyết, gần
một nửa (366 người) được nhập viện. Trong số đó, 30 BN (8,1%) chết trước khi ra
viện. Thời gian trung vị từ lúc khởi trị gatifloxacin đến lúc đi khám là 6 ngày.
- Mặt khác, khả năng bị tăng đường huyết ở BN đã điều trị
với gatifloxacin cao gấp 17 lần so với macrolid. Trong số 470 BN tăng đường
huyết, khoảng phân nửa (237 người) được nhập viện và 39 người trong số này
(16,5%) chết tại bệnh viện. Thời gian trung vị từ khi khởi trị đến lúc đến bệnh
viện là 5 ngày.
- Levofloxacin cũng kết hợp với một sự tăng nhẹ nguy cơ
hạ đường huyết chứ không tăng đường huyết. Trong các phân tích bổ sung, tần suất
rối loạn đường huyết xảy ra trong vòng 30 ngày sau khi được kê toa kháng sinh
nhận thấy cao nhất với gatifloxacin (1,1%), tiếp theo là cipprofloxacin (0,3%),
levofloxacin (0,3%), moxifloxaxin và các cephalosporin thế hệ 2 (0,2% mỗi loại),
và thấp nhất là macrolid (0,1%). Những tần suất này có lẽ chưa ước tính đủ, vì
chỉ những BN có bằng chứng hạ hoặc tăng đường huyết đến thăm khám tại bệnh viện
mới được đưa vào cơ sở dữ liệu.
Mặc dù cơ chế của những tác dụng bất lợi trái ngược này
chưa được biết rõ, nhưng gatifloxacin có thể gây hạ đường huyết do thúc đẩy sự
phóng thích insulin, và gây tăng đường huyết bằng cách tạo không bào trong tế
nào tụy bêta, làm giảm nồng độ insulin (Park-Wyllie L.Y và cs, 2006).
Cho đến nay, các yếu tố nguy cơ của tác dụng phụ của
gatifloxacin gây rối loạn đường huyết nguy hiểm đến tính mạng thường là tuổi cao
(> 75 tuổi), có bệnh tiểu đường hoặc giảm chức năng thận, và dùng đồng thời
những thuốc có tác dụng hạ đường huyết. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy
ngay cả người không bị tiểu đường cũng có nguy cơ. BN tiểu đường không nên dùng
gatifloxacin mà nên dùng kháng sinh khác để thay thế (nhưng cần thận trọng với
levofloxacin). Khi kê toa gatifloxacin, nên cảnh báo BN về các dấu hiệu và triệu
chứng của hạ và tăng đường huyết, và nênxem xét theo dõi đường huyết của BN ít
nhất là trong tuần đầu điều trị.
Theo Kendall C & Wooltorton E, CMAJ 11/4/2006 |