|
Những tiến bộ về kỹ thuật nội
soi trong phụ khoa
BS. Nguyễn Mạnh Trí
BV. Phụ sản - Hà Nội
Từ những thập niên 30, 40 của thế kỷ 20, tức cách đây khoảng 60-70 năm,
nội soi đã được y học đề cập đến. Tuy nhiên, lúc này kỹ thuật nội soi còn hết
sức sơ khai và nó chỉ được y học ứng dụng rộng rãi khoảng 30 năm trở lại đây.
KHÁI
NIỆM VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA PHƯƠNG PHÁP NỘI SOI
Khái niệm
nội soi có thể hiểu là nhìn vào phía bên trong. Trong y học, khái niệm này cũng
được hiểu như vậy. Do lớp da bao bọc và bảo vệ cơ thể không cho phép chúng ta
thấy được những vị trí nằm sâu bên dưới, nên để có thể quan sát tường tận, người
ta đã nghĩ ra nhiều cách. Những thăm dò cho hình ảnh gián tiếp đang được ứng
dụng là siêu âm và X-quang (siêu âm hai chiều, siêu âm đa chiều, X-quang thường,
X-quang chụp cắt lớp, chụp có sự hỗ trợ của kỹ thuật toán học và tin học...).
Những thăm dò này ngày càng cho hình ảnh sát thực, tuy bản chất vẫn là hình ảnh
gián tiếp. Muốn có hình ảnh trực tiếp, phải rạch bỏ lớp da để vào sâu quan sát,
mà chúng ta thường gọi là mổ.
Có hai
cách quan sát thông qua rạch da. Cách thứ nhất, phẫu thuật viên rạch rộng vùng
nghi ngờ để quan sát (thông thường đường rạch dài khoảng 5-15cm). Cách này
thường được gọi là mổ mở. Cách thứ hai, người quan sát chỉ rạch một lỗ nhỏ dài
0,3-1cm. Qua lỗ nhỏ này, người ta cũng có thể “nhìn thấy” vùng mình cần quan sát.
Sự ra đời
của kỹ thuật nội soi xuất phát từ những mong muốn chẩn đoán trong phụ khoa, sau
đó được mở rộng sang các chuyên ngành khác như tiêu hóa, tiết niệu, hô hấp, tai
mũi họng, khớp tim mạch... Do sự mở rộng này mà có một số quan sát nội soi không
phải rạch da, mà chỉ cần quan sát các vị trí cơ thể qua những hốc tự nhiên (hay
gặp trong nội soi đường tiêu hóa). Nhưng nội soi phụ khoa ổ bụng vẫn phải thông
qua một vài điểm rạch. Khoảng những năm 1970, phẫu thuật gia người Pháp M. A
Bruhat đã gợi lại cho y học thế giới một phương pháp quan sát suýt bị lãng quên,
đó là nội soi.
Các tiến
hành ban đầu của ông chỉ nhằm mục đích quan sát và chẩn đoán những khối bất
thường phụ khoa nằm trong ổ bụng. Lúc đầu với một ống soi nhỏ đặt vào ổ bụng,
nội soi chỉ cho phép một người quan sát. Sau này, nhờ hệ thống camera truyền
hình ảnh trực tiếp thông qua màn hình, nội soi đã cho phép nhiều người cùng quan
sát một hình ảnh. Hình ảnh nội soi có thể lưu lại làm tài liệu nghiên cứu và
phân tích sau này.
Một đóng
góp tích cực cho ngành nội soi là việc tiến hành cắt bỏ những khối bất thường
qua chính những ống nhỏ sử dụng khi quan sát. Có thể xem đây là cuộc cách mạng
của kỹ thuật nội soi, từ “nội soi chẩn đoán” sang “nội soi can thiệp”, hay còn
gọi là “phẫu thuật nội soi”. Nhờ những đóng góp to lớn có tính định hướng này,
Bruhat đã được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Nội soi thế giới.
NHỮNG ƯU ĐIỂM CỦA KỸ THUẬT
NỘI SOI TRONG PHỤ KHOA
Nội soi
can thiệp đã nhanh chóng khẳng định chỗ đứng của mình trong các can thiệp bệnh
lý khối u phụ khoa. Ban đầu là phẫu thuật những khối u nhỏ, còn khả năng di động
của buồng trứng, vòi tử cung (vòi trứng), tử cung; Tiến đến phẫu thuật những
khối u có kích thước lớn hơn, ít di động. Nội soi phụ khoa cũng phát triển dần
từ những phẫu thuật cho một tạng biệt lập đến phẫu thuật cho những tạng có liên
kết. Cắt tử cung qua nội soi là một ví dụ điển hình, là cấp độ cao trong phẫu
thuật nội soi. Đến đây, tưởng chừng các khả năng của nội soi đã được khai thác
tận dụng hết. Nhưng nó còn đạt một bước tiến xa hơn nữa là có thể giúp thực hiện
những phẫu thuật khối u ung thư có biểu hiện di căn hạch. Đây là một phẫu thuật
phức tạp vì rất khó nhận định đâu là phần bệnh và đâu là phần lành, nên dễ dẫn
đến những rủi ro. Để tăng thêm khả năng cảm nhận khối bất thường, người ta phải
chạm vào khối u trực tiếp bằng đầu ngón tay - và nội soi đã tạo ra một hướng mới
trong việc nhận định khối u.
Theo xu
hướng hiện nay, mong muốn của người phụ nữ là giữ lại càng nhiều càng tốt những
tổ chức lành, không bị bệnh lý. Nội soi phụ khoa một lần nữa đã đáp ứng mong
muốn ấy. Với những phẫu thuật cắt bỏ khối u qua đường âm đạo, các phẫu thuật qua
đường tự nhiên sẽ phải cắt toàn bộ tạng đó kèm khối u, bởi trong quá trình cắt
có nhiều thời điểm không quan sát được khối u. Trong khi đó, nội soi luôn đảm
bảo quan sát được hình thái khối u, giúp phẫu thuật viên có thể cắt chọn lọc
khối u và để lại phần tạng lành. Điều này có thể làm bệnh nhân phải phẫu thuật
lại vì chính căn bệnh này. Nhưng nếu cứ có khối u tại một phần tạng nào đó là
phải cắt bỏ toàn bộ tạng thì người phụ nữ sẽ mất đi những chức năng khó bù đắp.
Chẳng hạn nếu mất một buồng trứng, cơ hội có thai sẽ giảm một nửa; Nếu mất hai
buồng trứng, cơ hội có thai tự nhiên sẽ không còn, đó là chưa kể đến sự suy giảm
chức năng giới tính mà các thuốc nội tiết tố thay thế cũng không thể bù đắp được.
Trong khi đó, nếu để lại 1/10 buồng trứng thì người phụ nữ vẫn có cơ hội có thai
và đảm bảo nữ tính như khi chưa cắt buồng trứng. Cắt vòi trứng không ảnh hưởng
đến giới tính nhưng ảnh hưởng đến khả năng sinh nở. Thường cơ thể người phụ nữ
có hai buồng rứng và vòi tử cung, và có thể cho phép cắt bỏ một trong hai. Nhưng
nếu khối u xảy ra ở những tạng cơ thể chỉ có một thì vấn đề bảo tồn phải được
đặt ra. Nếu cắt tử cung, người phụ nữ sẽ vĩnh viễn không bao giờ còn có cơ hội
sinh con tự nhiên. Nội soi đã luôn đặt vấn đề này lên hàng đầu, hơn nữa ưu điểm
của phẫu thuật nội soi bảo tồn là sau phẫu thuật, tình trạng giới tính và sinh
sản của người phụ nữ luôn được đảm bảo rất cao. Bên cạnh đó, phẫu thuật còn giúp
người bệnh phục hồi nhanh, sớm trở lại với cuộc sống và sinh hoạt bình thường.
Một ưu
điểm vượt trội là trong phẫu thuật nội soi, các tạng trong ổ bụng không bị phơi
bày ra môi trường không khí, phúc mạc (lớp tổ chức mỏng bao bọc ngăn cách chống
dính giữa các tạng trong ổ bụng) không bị khô, giảm đáng kể độ dính sau phẫu
thuật. Điều này đem lại hai lợi điểm: Nguy cơ dính tắc sau phẫu thuật giảm; Nếu
phải phẫu thuật lại cũng không gặp khó khăn như trong các trường hợp có tiền sử
phẫu thuật mở.
Như vậy,
qua hơn 30 năm khôi phục và phát triển kỹ thuật nội soi phụ khoa, y học đã có
một phương tiện chẩn đoán khối phụ khoa bất thường với độ chính xác cao, có thể
can thiệp và lấy đi những khối u cho người phụ nữ, nhất là chỉ lấy đi phần bệnh
mà vẫn giữ lại được những tổ chức lành, đảm bảo được sức khỏe và một nhu cầu
quan trọng là tính thẩm mỹ. Có thể xem đây là phương pháp hội tụ đầy đủ các mong
muốn của người bệnh: chính xác, nhanh chóng, an toàn và thẩm mỹ. Tuy nhiên, với
thời gian ra đời còn khiêm tốn, nội soi chưa thể thỏa mãn hết những nhu cầu của
con người. Hy vọng trong tương lai, nội soi sẽ có những bước tiến lớn và đóng
góp ngày càng nhiều cho mục tiêu phục vụ sức khỏe con người.
(Theo VnExpress) |