Trang chủ |  Sơ đồ site |  Liên hệ |  Download  
    
 
 Giới thiệu  |
 Thống kê Y tế  |
 Tổ chức Y tế  |
 Hoạt động Y tế  |
 Quản lý Nhà nước về Y tế  |
 Thông tin Y học  |
 Y học phổ thông  |
 Dịch vụ Y học 
 
Chào mừng các bạn đến với MEDINET - Website Ngành Y tế Thành Phố Hồ Chí Minh
TRANG CHỦ
GIỚI THIỆU MEDINET
THỐNG KÊ Y TẾ
Chương trình sức khỏe
Khám chữa bệnh
Nhân lực
Tài chính
Viện trợ
TỔ CHỨC Y TẾ (*)
HOẠT ĐỘNG Y TẾ
Thông tin hoạt động ngành Y tế
Thông báo hoạt động ngành Y tế (*)
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ Y TẾ
Văn bản pháp luật (*)
Kết quả đấu thầu
Hướng dẫn thủ tục hành chính
Thông tin quản lý nhà nước về Y tế (*)
Danh mục các thực phẩm đã công bố chất lượng (*)
THÔNG TIN Y HỌC
Thành tựu Y học mới
Thành tựu Y học TPHCM
Thành tựu Y học VN
Các đề tài nghiên cứu khoa học trong nước
Bài sinh hoạt khoa học kỹ thuật (*)
Bản tin Sức Khoẻ TP HCM
Thông tin Y học trên internet
Y HỌC PHỔ THÔNG
Thông tin chăm sóc sức khỏe
Tư liệu giáo dục sức khỏe
Các web site Y học phổ thông
Chương trình 'Trò chuyện với thầy thuốc' (*)
Chương trình GDSK trên truyền hình và phát thanh
CT BÌNH ỔN THỊ TRƯỜNG DƯỢC PHẨM
Văn bản pháp luật
Danh mục thuốc - bảng giá
Danh sách nhà thuốc Bệnh viện
Danh sách nhà thuốc Doanh nghiệp
Danh sách nhà thuốc Tư nhân
Danh sách Công ty
THÔNG TIN VỀ GPP GDP
Danh sách các nhà thuốc đạt GPP
Danh sách các công ty đạt GDP
Danh sách các CSKD thuốc đạt chuẩn GSP
Văn bản pháp luật
Hỗ trợ về GDP
Hỗ trợ về GPP
QUẢN LÝ MỸ PHẨM
Văn bản pháp luật
Các hướng dẫn chung
Danh sách mỹ phẩm được tiếp nhận phiếu công bố
Mỹ phẩm bị đình chỉ
DỊCH VỤ Y HỌC
Giải đáp thắc mắc
 Tìm kiếm
Tìm kiếm chi tiết
Liên kết trang web
  THÀNH TỰU Y HỌC VN
Những tiến bộ về kỹ thuật nội soi trong phụ khoa

Những tiến bộ về kỹ thuật nội soi trong phụ khoa

BS. Nguyễn Mạnh Trí

BV. Phụ sản - Hà Nội

Từ những thập niên 30, 40 của thế kỷ 20, tức cách đây khoảng 60-70 năm, nội soi đã được y học đề cập đến. Tuy nhiên, lúc này kỹ thuật nội soi còn hết sức sơ khai và nó chỉ được y học ứng dụng rộng rãi khoảng 30 năm trở lại đây.

KHÁI NIỆM VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA PHƯƠNG PHÁP NỘI SOI

Khái niệm nội soi có thể hiểu là nhìn vào phía bên trong. Trong y học, khái niệm này cũng được hiểu như vậy. Do lớp da bao bọc và bảo vệ cơ thể không cho phép chúng ta thấy được những vị trí nằm sâu bên dưới, nên để có thể quan sát tường tận, người ta đã nghĩ ra nhiều cách. Những thăm dò cho hình ảnh gián tiếp đang được ứng dụng là siêu âm và X-quang (siêu âm hai chiều, siêu âm đa chiều, X-quang thường, X-quang chụp cắt lớp, chụp có sự hỗ trợ của kỹ thuật toán học và tin học...). Những thăm dò này ngày càng cho hình ảnh sát thực, tuy bản chất vẫn là hình ảnh gián tiếp. Muốn có hình ảnh trực tiếp, phải rạch bỏ lớp da để vào sâu quan sát, mà chúng ta thường gọi là mổ.

Có hai cách quan sát thông qua rạch da. Cách thứ nhất, phẫu thuật viên rạch rộng vùng nghi ngờ để quan sát (thông thường đường rạch dài khoảng 5-15cm). Cách này thường được gọi là mổ mở. Cách thứ hai, người quan sát chỉ rạch một lỗ nhỏ dài 0,3-1cm. Qua lỗ nhỏ này, người ta cũng có thể “nhìn thấy” vùng mình cần quan sát.

Sự ra đời của kỹ thuật nội soi xuất phát từ những mong muốn chẩn đoán trong phụ khoa, sau đó được mở rộng sang các chuyên ngành khác như tiêu hóa, tiết niệu, hô hấp, tai mũi họng, khớp tim mạch... Do sự mở rộng này mà có một số quan sát nội soi không phải rạch da, mà chỉ cần quan sát các vị trí cơ thể qua những hốc tự nhiên (hay gặp trong nội soi đường tiêu hóa). Nhưng nội soi phụ khoa ổ bụng vẫn phải thông qua một vài điểm rạch. Khoảng những năm 1970, phẫu thuật gia người Pháp M. A Bruhat đã gợi lại cho y học thế giới một phương pháp quan sát suýt bị lãng quên, đó là nội soi.

Các tiến hành ban đầu của ông chỉ nhằm mục đích quan sát và chẩn đoán những khối bất thường phụ khoa nằm trong ổ bụng. Lúc đầu với một ống soi nhỏ đặt vào ổ bụng, nội soi chỉ cho phép một người quan sát. Sau này, nhờ hệ thống camera truyền hình ảnh trực tiếp thông qua màn hình, nội soi đã cho phép nhiều người cùng quan sát một hình ảnh. Hình ảnh nội soi có thể lưu lại làm tài liệu nghiên cứu và phân tích sau này.

Một đóng góp tích cực cho ngành nội soi là việc tiến hành cắt bỏ những khối bất thường qua chính những ống nhỏ sử dụng khi quan sát. Có thể xem đây là cuộc cách mạng của kỹ thuật nội soi, từ “nội soi chẩn đoán” sang “nội soi can thiệp”, hay còn gọi là “phẫu thuật nội soi”. Nhờ những đóng góp to lớn có tính định hướng này, Bruhat đã được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Nội soi thế giới.

NHỮNG ƯU ĐIỂM CỦA KỸ THUẬT NỘI SOI TRONG PHỤ KHOA

Nội soi can thiệp đã nhanh chóng khẳng định chỗ đứng của mình trong các can thiệp bệnh lý khối u phụ khoa. Ban đầu là phẫu thuật những khối u nhỏ, còn khả năng di động của buồng trứng, vòi tử cung (vòi trứng), tử cung; Tiến đến phẫu thuật những khối u có kích thước lớn hơn, ít di động. Nội soi phụ khoa cũng phát triển dần từ những phẫu thuật cho một tạng biệt lập đến phẫu thuật cho những tạng có liên kết. Cắt tử cung qua nội soi là một ví dụ điển hình, là cấp độ cao trong phẫu thuật nội soi. Đến đây, tưởng chừng các khả năng của nội soi đã được khai thác tận dụng hết. Nhưng nó còn đạt một bước tiến xa hơn nữa là có thể giúp thực hiện những phẫu thuật khối u ung thư có biểu hiện di căn hạch. Đây là một phẫu thuật phức tạp vì rất khó nhận định đâu là phần bệnh và đâu là phần lành, nên dễ dẫn đến những rủi ro. Để tăng thêm khả năng cảm nhận khối bất thường, người ta phải chạm vào khối u trực tiếp bằng đầu ngón tay - và nội soi đã tạo ra một hướng mới trong việc nhận định khối u.

Theo xu hướng hiện nay, mong muốn của người phụ nữ là giữ lại càng nhiều càng tốt những tổ chức lành, không bị bệnh lý. Nội soi phụ khoa một lần nữa đã đáp ứng mong muốn ấy. Với những phẫu thuật cắt bỏ khối u qua đường âm đạo, các phẫu thuật qua đường tự nhiên sẽ phải cắt toàn bộ tạng đó kèm khối u, bởi trong quá trình cắt có nhiều thời điểm không quan sát được khối u. Trong khi đó, nội soi luôn đảm bảo quan sát được hình thái khối u, giúp phẫu thuật viên có thể cắt chọn lọc khối u và để lại phần tạng lành. Điều này có thể làm bệnh nhân phải phẫu thuật lại vì chính căn bệnh này. Nhưng nếu cứ có khối u tại một phần tạng nào đó là phải cắt bỏ toàn bộ tạng thì người phụ nữ sẽ mất đi những chức năng khó bù đắp. Chẳng hạn nếu mất một buồng trứng, cơ hội có thai sẽ giảm một nửa; Nếu mất hai buồng trứng, cơ hội có thai tự nhiên sẽ không còn, đó là chưa kể đến sự suy giảm chức năng giới tính mà các thuốc nội tiết tố thay thế cũng không thể bù đắp được. Trong khi đó, nếu để lại 1/10 buồng trứng thì người phụ nữ vẫn có cơ hội có thai và đảm bảo nữ tính như khi chưa cắt buồng trứng. Cắt vòi trứng không ảnh hưởng đến giới tính nhưng ảnh hưởng đến khả năng sinh nở. Thường cơ thể người phụ nữ có hai buồng rứng và vòi tử cung, và có thể cho phép cắt bỏ một trong hai. Nhưng nếu khối u xảy ra ở những tạng cơ thể chỉ có một thì vấn đề bảo tồn phải được đặt ra. Nếu cắt tử cung, người phụ nữ sẽ vĩnh viễn không bao giờ còn có cơ hội sinh con tự nhiên. Nội soi đã luôn đặt vấn đề này lên hàng đầu, hơn nữa ưu điểm của phẫu thuật nội soi bảo tồn là sau phẫu thuật, tình trạng giới tính và sinh sản của người phụ nữ luôn được đảm bảo rất cao. Bên cạnh đó, phẫu thuật còn giúp người bệnh phục hồi nhanh, sớm trở lại với cuộc sống và sinh hoạt bình thường.

Một ưu điểm vượt trội là trong phẫu thuật nội soi, các tạng trong ổ bụng không bị phơi bày ra môi trường không khí, phúc mạc (lớp tổ chức mỏng bao bọc ngăn cách chống dính giữa các tạng trong ổ bụng) không bị khô, giảm đáng kể độ dính sau phẫu thuật. Điều này đem lại hai lợi điểm: Nguy cơ dính tắc sau phẫu thuật giảm; Nếu phải phẫu thuật lại cũng không gặp khó khăn như trong các trường hợp có tiền sử phẫu thuật mở.

Như vậy, qua hơn 30 năm khôi phục và phát triển kỹ thuật nội soi phụ khoa, y học đã có một phương tiện chẩn đoán khối phụ khoa bất thường với độ chính xác cao, có thể can thiệp và lấy đi những khối u cho người phụ nữ, nhất là chỉ lấy đi phần bệnh mà vẫn giữ lại được những tổ chức lành, đảm bảo được sức khỏe và một nhu cầu quan trọng là tính thẩm mỹ. Có thể xem đây là phương pháp hội tụ đầy đủ các mong muốn của người bệnh: chính xác, nhanh chóng, an toàn và thẩm mỹ. Tuy nhiên, với thời gian ra đời còn khiêm tốn, nội soi chưa thể thỏa mãn hết những nhu cầu của con người. Hy vọng trong tương lai, nội soi sẽ có những bước tiến lớn và đóng góp ngày càng nhiều cho mục tiêu phục vụ sức khỏe con người.

(Theo VnExpress)

In thông tin
  CÁC TIN KHÁC
Việt Nam sản xuất đủ các thuốc cơ bản điều trị AIDS
Một số thành công cấy ghép mô, tạng ở Việt Nam
Những Thành Tựu Y Học VN
Phục hồi tiếng nói bằng cách đặt khung đỡ (stent) khí quản
Lần đầu tiên mổ nội soi lồng ngực thành công cho trẻ mới 17 ngày tuổi
Lần đầu tiên tại Việt Nam thực hiện thành công kỹ thuật hút tinh trùng từ mào tinh qua vi phẫu (MESA)
Áp dụng kỹ thuật X - Knife (phẫu thuật bằng tia X) điều trị ung thư gan
Kỹ thuật phân tử (PCR) phát hiện sớm virus HIV
Giải Nobel Y học 2002 Từ lập trình tế bào chết đến triển vọng điều trị các bệnh nan y
Điều trị bệnh ung thư gan không cần phẫu thuật
Laser Erbium điều trị lão thị Thành tựu mới nhất của nhãn khoa thế giới được áp dụng tại Việt Nam
Ðiều trị phẫu thuật lao cột sống thắt lưng bằng kỹ thuật nội soi nhân ba trường hợp đầu tiên tại TP. HCM
Điều trị ung thư gan bằng đồng vị phóng xạ
So Y te Thanh pho Ho Chi Minh
Website thành viên
Mạng thông tin PC AIDS
Vệ sinh an toàn thực phẩm
Trung tâm Y tế quận 1
MEDIC MEDICAL CENTER
TT. Bảo vệ sức khỏe Bà mẹ Trẻ em & KHHGĐ
Bệnh viện Răng Hàm Mặt
Đối Thoại Doanh Nghiệp
Bệnh viện Từ Dũ
Thuốc Việt Cho Người Việt
Tổng điều tra kinh tế
Thua phat lai thi diem