Thuốc kháng Histamin trị dị ứng

Thuốc kháng Histamin trị dị ứng

TS.DS. Nguyễn Hữu Đức

Đại học Y Dược TP. HCM

V́ sao bị dị ứng?

Histamin là một trong những chất sinh học trung gian giữ vai tṛ quan trọng trong sốc phản vệ và phản ứng dị ứng. B́nh thường histamin có trong cơ thể, tập trung nhiều trong các tế bào bạch cầu có nhiều ở da, niêm mạc ruột, khí quản, phổi… Trong các tế bào, histamin kết hợp với heparin tạo thành phức hợp không có hoạt tính. Chỉ khi nào bị dị ứng, hoặc có tác động của các yếu tố khác như: lạnh, tổn thương tế bào, hoá chất…, tế bào bạch cầu chứa phức hợp histamin-heparin bị kích thích phóng thích ra histamin dạng tự do. Chính histamin dạng tự do gắn vào những vị trí nhạy cảm gọi là thụ thể histamin gây các triệu chứng  dị ứng như:

- Trên hệ hô hấp: sổ mũi, hen suyễn (do viêm, phù nề và co thắt khí quản).

- Trên da: nổi mề đay, phát ban, ngứa, phù Quincke.

- Trên mắt: làm viêm, đỏ kết mạc mắt.

- Trên hệ tiêu hóa: gây sự tiết quá độ HCl và pepsin, gây tiêu chảy do co thắt ruột.

- Trên hệ tim mạch: gây giăn mạch, hạ huyết áp, gây co thắt tim.

    Có 2 loại thụ thể histamin:

* Thụ thể H1: là nơi gắn histamin gây hiệu ứng co thắt cơ trơn khí quản, ruột nhưng làm giăn cơ trơn mạch máu, tăng tính thấm mao mạch gây phù nề, kích thích tận cùng dây thần kinh gây ngứa, nói chung gây dị ứng. Thuốc kháng thụ thể H1 hay nói gọn hơn thuốc kháng histamin được dùng trị dị ứng.

* Thụ thể H2: là nơi gắn histamin gây tăng tiết acid dịch vị. Thuốc kháng thụ thể H2 (cimetidin, ranitidin, famotidin...) được dùng trị viêm loét dạ dày- tá tràng.           

Thuốc trị dị ứng tác dụng như thế nào?

Thuốc kháng histamin trị được dị ứng v́ đối kháng tương tranh thuận nghịch với histamin tại thụ thể H1 (tranh giành, thậm chí đánh bật histamin ra khỏi thụ thể để chiếm lấy thụ thể), histamin không gắn với thụ thể H1 sẽ không c̣n gây ra dị ứng.

Theo thời gian thuốc ra đời và lợi điểm, thuốc trị dị ứng được chia làm 2 thế hệ:

Thế hệ thứ 1: c̣n gọi thuốc kháng histamin cổ điển, bao gồm thuốc được ra đời đầu tiên từ năm 1939 đến thuốc của những năm 1970, như prometazin, clorpheniramin, diphenhydramin… Thuốc cổ điển có 2 bất lợi: gây buồn ngủ và thời gian tác dụng ngắn, phải dùng nhiều lần trong ngày.

Thế hệ thứ 2: gồm các thuốc xuất hiện từ năm 1980, như: cetirizin, astemizol, loratidin, mequitazin, terfenadin, fexofenadin… Thuốc thế hệ mới này khắc phục được 2 bất lợi của thuốc thế hệ 1. Nhờ có cấu trúc hóa học không thấm vào mỡ, thuốc thế hệ mới không xâm nhập hệ thần kinh trung ương nên không gây buồn ngủ cũng như không gây tác dụng phụ liệt đối giao cảm (hay tác dụng chống tiết cholin như: khô miệng, táo bón, rối loạn điều tiết mắt…). Nhờ thời gian bán hủy dài, một số thuốc mới như: astemizol, loratidin, cetirizin chỉ cần uống một lần trong ngày.

Thuốc trị dị ứng c̣n có tác dụng ǵ?

- Ngoài trị hoặc pḥng một số biểu hiện của dị ứng cấp tính (sổ mũi mùa, côn trùng chích, viêm mũi dị ứng, viêm da dị ứng, nổi mề đay, viêm kết mạc dị ứng, sẩn ngứa, phù Quincke), một số thuốc kháng histamin c̣n được dùng: chống nôn say tàu xe (dimephydrinat, diphenhydramin, cinarizin…), trị nhức nửa đầu (cinnarizin, flunarizin, dimethothiazin), trị hội chứng Ménière (hydroxyzin), kích thích sự thèm ăn (cyproheptadin, nhiều nước bỏ chỉ định này) dùng như thuốc an thần gây ngủ (promethazin, doxylamin, diphenhydramin).

Khi sử dụng thuốc trị dị ứng cần lưu ư ǵ?

* Thuốc kháng histamin chỉ trị triệu chứng dị ứng (ho, sổ mũi nước, nổi mề đay, ngứa …). Cần t́m ra và loại trừ kháng nguyên (thức ăn, thuốc, môi trường sống) mới có thể trị được căn bệnh dị ứng.

* Nhiều biệt dược trị cảm – sổ mũi (Contac, Decolgen fort, Actifed, Comtrex, Denoral…) hoặc trị ho (Toplexil, Atussin, Rhinathiol – Promethazine), trong thành phần có chứa thuốc kháng histamin cổ điển gây buồn ngủ (như clorpheniramin). V́ vậy, người sử dụng cần lưu ư về tác dụng gây buồn ngủ, tránh dùng thuốc nếu phải làm việc, đ̣i hỏi sự tập trung, tỉnh táo và tránh uống rượu khi đang dùng thuốc. Hơn nữa, thuốc loại này c̣n chứa thêm thuốc làm co mạch, chống sung huyết ở niêm mạc mũi (như phenylpropanolamin, ephedrin, pseudoephedrin) nên cần tránh dùng ở người bị cao huyết áp, trẻ c̣n quá nhỏ tuổi.

* Tác dụng phụ gây buồn ngủ của thuốc kháng histamin cổ điển có khi được dùng như chỉ định chính thức trị mất ngủ. Chỉ dùng thuốc trong trường hợp này trong thời gian ngắn và các bà mẹ không được dùng thuốc cho trẻ ngủ kéo dài (v́ sẽ gây mỏi mệt, không phát triển tốt trí tuệ).

* Ở ta, hiện nay, vẫn c̣n dùng cyproheptadin (Periactin, Peritol) trị chứng chán ăn (nhiều nước không dùng chỉ định này). Nên lưu ư các đối tượng không được dùng cyproheptadin: phụ nữ có thai (thuốc ảnh hưởng đến thai), phụ nữ cho con bú (thuốc ức chế sự tiết sữa), trẻ con dưới 2 tuổi. Người cao tuổi cũng nên tránh dùng cyproheptadin.

   + Có t́nh trạng không dung nạp thuốc kháng histamin: trẻ con bị kích thích vật vă, người lớn bị dị ứng bởi chính thuốc kháng histamin.

   + Vào năm 1990, nhiều báo cáo ở Mỹ cho thấy dùng terfenadin chung với các kháng sinh họ macrolid (như erythromycin, josamycin, clarithromycin) hoặc thuốc kháng nấm ketoconazol (Nizoral), itraconazol sẽ bị rối loạn nhịp tim trầm trọng. V́ vậy, hiện nay FDA Mỹ đă cấm dùng terfenadin và thay thế bằng fexofenadin (Telfast). Ở ta, không cấm dùng terfenadin nhưng bắt buộc chỉ dùng khi có toa bác sĩ (các thuốc kháng histamin khác được bán không cần toa). Nên lưu ư, astemizol có thể gây tương tác thuốc giống terfanadin.