Loăng xương

Loăng xương

Loăng xương là một chứng bệnh làm cho xương bị yếu và gịn. Bị chứng này, xương dễ bị găy hơn b́nh thường. Chỉ cần một va chạm nhẹ hoặc ngă cũng có thể làm xương bị gẫy nặng. Ở Úc trong số những người trên 60 tuổi, những người thuộc phái nữ và một phần ba những người thuộc phái nam sẽ bị găy xương do loăng xương gây ra.

Ở Úc loăng xương và găy xương là những nguyên nhân chính gây ra thương tích, tật nguyền lâu dài và thậm chí gây tử vong ở người lớn tuổi. Một phần năm những người bị găy xương sẽ bị thiệt mạng trong ṿng 6 tháng nếu không được chăm sóc y tế đầy đủ. Trong số những người không bị thiệt mạng th́ có tới 50% sẽ không di chuyển được, hoặc phải nằm liệt giường nếu không có trợ giúp y tế thường xuyên.

Chứng loăng xương thường được gọi là chứng bệnh âm thầm, v́ thường không có dấu hiệu hay triệu chứng nào cho thấy bệnh nhân bị mắc bệnh, chỉ phát hiện được khi đă có găy xương.

Bất cứ xương nào trên cơ thể cũng có thể găy, nhưng thông thường nhất là xương hông, xương sống, xương cổ tay, xương sườn, xương chậu và xương cánh tay.

Những yếu tố liên quan đến chứng Loăng xương:

Sự rắn chắc của xương trong cơ thể tùy thuộc vào:

. Yếu tố di truyền (60-80%)

. Lượng kích thich tố trong cơ thể của mỗi người. Ở nữ giới là kích thích tố nữ (oestrogen); ở nam giới là kích thích tố nam (testosterone)

. Hoạt động, vận động thường xuyên

. Thức ăn hàng ngày

Những yếu tố nói trên ảnh hưởng đến sự tạo thành của xương trước giai đoạn trưởng thành là khi xương ở vào thời kỳ mạnh nhất. Từ tuổi 30 trở đi điều quan trọng là duy tŕ sức mạnh của xương và tránh cho xương bị mỏng dần đi.

Giai đoạn tắt kinh và chứng Loăng xương

Giai đoạn tắt kinh là khoảng thời gian người phụ nữ có kinh lần cuối. Đa số phụ nữ Úc tiến vào giai đoạn tắt kinh ở vào tuổi 45-55, nhưng có thể sớm hơn. Khoảng 45 tuổi trở đi, nhiều phụ nữ có thể bị mất từ 1-2% các tế bào xương sau mỗi năm. Lư do là v́ ở tuổi này cơ thể của họ thường được sản xuất ít kích thích tố nữ hơn. Sau giai đoạn tắt kinh, lượng kích thích tố nữ do cơ thể sản xuất giảm từ 2-4% mỗi năm, đặc biệt là từ  5-10 năm đầu sau khi tắt kinh. T́nh trạng xương bị mất do di chứng tắt kinh gây ra kéo dài khoảng 15-20 năm. Ở giai đoạn tắt kinh, tất cả các phụ nữ đều dần dần bị mất các tế bào xương. Lượng xương bị mất thay đổi tùy theo từng người, nhưng có nhiều người có thể mất tới 30% lượng tế bào xương của cơ thể trong thời gian này. Nếu v́ lư do nào đó dẫn đến bị tắt kinh sớm, tế bào xương trong cơ thể sẽ bị mất sớm hơn. Người bệnh nên thảo luận với bác sĩ về việc ngăn ngừa chứng loăng xương càng sớm càng tốt.

Những nguyên nhân gây ra chứng Loăng xương ở nam và nữ giới

Những nguyên nhân có thể thay đổi

. Người bệnh ít hoạt động hoặc không chịu hoạt động

. Người hút thuốc

. Người uống rượu nhiều

. Nhẹ cân

. Ít ăn những thức ăn có chứa nhiều chất vôi (Calcium)

. Thường hay bị té ngă

Những nguyên nhân không thể thay đổi

. Có cha, mẹ hay ông bà bị loăng xương hoặc là một người trong gia đ́nh đă găy xương v́ loăng xương.

. Người thuộc phái nữ

. Người tây phương hoặc Á châu

. Người có vóc nhỏ con

. Chậm đến tuổi dậy th́ hoặc tắt kinh sớm

. Bị chứng gầy ốm dẫn đến kinh nguyệt không đều, hay kinh nguyệt thất thường

. Đă từng bị găy xương do loăng xương

. Mắc các bệnh khác như thấp khớp, bệnh gan măn tính hoặc suy thận

. Tuổi trên 60

. Tuyến giáp trạng (thyroid) hay cận giáp trạng (parathyroid) hoạt động không b́nh thường, hoặc đă từng được điều trị bằng kích thích tố giáp trạng.

. Thuộc phái nam nhưng có lượng kích thích tố nam thấp

. Được chữa trị lâu dài bằng thuốc có chứa chất corticosteroids (thí dụ: Prednisone)

Ngăn ngừa loăng xương - giảm nguy cơ mắc bệnh

. Ăn các thức ăn chứa nhiều chất vôi (calcium) và sinh tố D. Đối với đa số, nếu dùng các phó sản của sữa (dairy products) thí dụ như sữa, da-ua, phô-ma, mỗi ngày 3 lần sẽ có đủ chất vôi cần thiết cho cơ thể.

. Sinh tố D giúp cho cơ thể hấp thu chất vôi. Thức ăn có chứa một lượng nhỏ sinh tố D như ḷng đỏ trứng gà, cá nước mặn và các loại bơ chế biến bằng chất béo thực vật (manarine). Nguồn sinh tố D dồi dào nhất là ánh mặt trới (nhưng cần chú ư tránh để da bị cháy nắng).

. Tập những môn thể dục đ̣i hỏi nhiều vận động, mang trên người những vật nặng để xương cứng cáp hơn, thí dụ đi bộ, chơi tenis, nhảy múa và cử tạ.

. Nếu có thể được nên đi kiểm tra độ đặc của xương (BMD)

. Hỏi bác sĩ xem ḿnh có cần uống thuốc bổ xương hay không

. Hỏi bác sĩ xem loại thuốc nào uống có tác dụng phụ làm xương mỏng đi (để tránh)

. Ngưng hút thuốc

. Giảm uống rượu bia

CHẨN ĐOÁN LOĂNG XƯƠNG

Để chẩn đoán loăng cương, bác sĩ sẽ hỏi tiền sử bệnh lư của quư vị, và hỏi xem quư vị đă bị găy xương bao giờ chưa. Nói một cách tổng quát, xương bị găy do loăng xương gây ra khi quư vị va chạm nhẹ vào vật ǵ đó, hoặc ngă; thí dụ vấp ngă, trượt chân tay hay ngay cả khi ho.

Bác sĩ sẽ hỏi về những nguy cơ dẫn đến loăng xương mà quư vị có thể mắc phải và sẽ đo chiều cao của quư vị để so sánh với thời gian trước - nếu chiều cao mất tới 3 cm có nghĩa là quư vị có những chỗ vỡ ở xương sống (đôi khi những chỗ vỡ này không gây đau đớn nên quư vị có thể không để ư). Bác sĩ cũng có thể cho chụp quang tuyến X để xem xương sống của quư vị có chỗ nào bị vỡ hoặc găy không. Những chỗ găy do loăng xương gây ra thừơng được gọi là những chỗ xương bị “nghiền” (“crush” fractures) hay xương bị “ép” (“wedge” fractures).

Đo độ cứng của xương: khám độ đặc chất khoáng xương (Bone Mineral Denstty)

Một trong những phương pháp thử quan trọng nhất để chẩn đoán loăng xương do do độ đặc chất khoáng xương (BMD). Phương pháp này nhằm do độ đặc của xương. Phương pháp BMD phát giác quư vị có bị chứng loăng xương hay không, nếu có th́ mức độ trầm trọng như thế nào. Nếu quư vị chưa bị loăng xương, nó có thể giúp đoán được quư vị có nguy cơ bị chứng bệnh này hay không. Phương pháp hữu hiệu nhất để đo độ đặc của xương là phương pháp chụp DXA (viết tắt của chữDual Enegy X-ray  Absorptiometry). Phương pháp này nhanh chóng (chỉ khoảng 15’) không gây ra đau đớn, an toàn, chỉ dùng một lượng chất phóng xạ (ít hơn khi chụp quang tuyến để khám răng), và được dùng để đo độ đặc của xương sống và xương hông.

Nếu đang được trị chứng loăng xương, bác sĩ có thể khám xem phương pháp chữa trị có hiệu quả hay không bằng cách đo độ đặc của xương trước khi bắt đầu chữa trị và một năm hay hai năm sau quư vị được chữa trị. Điểm quan trọng là nếu có thể được, nên dùng một máy đo độ đặc của xương để kiểm tra.

 Những ai nên dùng phương pháp BMD

Bất cứ ai thấy:

. Có những nguy cơ nổi bật dẫn đến loăng xương.

. Có những triệu chứng của loăng xương, thí dụ: giảm chiều cao, lưng bị “gù” đi, xương bị găy v́ một tai nạn nhỏ.

. Bắt đầu được trị liệu chứng loăng xương.

Những ai nên chụp DXA

. Quư vị bị loăng xương (đă được chẩn đoán bởi bác sĩ)

. Bị găy xương một lần hay nhiều lần do hậu quả của loăng xương

. Quư vị đang dùng thuốc corticosteroids

. Quư vị dưới 45 tuổi nhưng bị mất kinh hơn 6 tháng v́ lượng kích thích tổ nữ thấp.

. Quư vị mắc chứng thấp khớp, bị bệnh gan hay thận măn tính.

Ư nghĩa kết quả việc thử độ đặc chất khoáng xương

Tất cả nhũng lần thử độ đặc chất khoáng xương (BMD) đều nhằm mục đích t́m hiểu chất lượng của xương ở một vùng nào đó. Những nơi người ta thường thử là vùng xương lưng (vùng trên và dưới thắt lưng) và cổ xương đùi (gắn khớp xương hông).

Kết quả sẽ cho quư vị độ T (T-score) và độ Z (Z-score). Độ T là độ đặc của xương của quư vị so sánh với độ đặc xương của một phụ nữ trẻ và khỏe mạnh. Nếu quư vị có độ T là 0 có nghĩa là xương của quư vị b́nh thường. Nếu quư vị có độ T từ 1 đến 2,5 có nghĩa là quư vị chưa bị chứng loăng xương, nhưng xương của quư vị có độ đặc thấp (osteopenia) và quư vị nên hỏi ư kiến bác sĩ về cách ngăn ngừa cho tế bào xương khỏi bị hao ṃn. Nếu quư vị có độ T từ 2,5 trở xuống, nghĩa là quư vị đă bị chứng loăng xương và cần thảo luận với bác sĩ về việc điều trị.

Bác sĩ dùng độ Z (Z-score) để so sánh độ đặc xương của quư vị với độ đặc của những người cùng lứa tuổi và giới tính.

Các phương pháp thử nghiệm khác, thí dụ như thử máu, có thể được dùng để t́m nguyên nhân gây chứng loăng xương hoặc những chứng bệnh có các triệu chứng tương tự như chứng này. Phương pháp chụp DXA là phương pháp tốt nhất để tiên đoán xem quư vị có thể bị găy xương trong tương lai hay không, và giúp cho quư vị biết ḿnh có cần được chữa trị kịp thời không. Kết quả thử nghiệm sẽ được gửi cho bác sĩ của quư vị xem xét và đưa ra phương hướng chữa trị.

Phương pháp thử siêu âm ở gót chân (thường được thực hiện ở các nhà thuốc/hiệu thuốc) không được xem là phương pháp hữu hiệu nhất để chẩn đoán loăng xương.

ĐIỀU TRỊ LOĂNG XƯƠNG

Mục đích chính là ngăn ngừa cho tế bào xương không bị mất thêm và tránh cho xương bị găy. Ngăn ngừa găy xương là điểm quan trọng. Tuy nhiên nếu xương đă găy cần có những phương pháp chữa trị nhằm giảm thiểu các trường hợp bị găy thêm xương.

Những biện pháp nhằm duy tŕ cho xương được rắn chắc và tránh xương bị hao ṃn hoặc bị găy ṃn:

. Ăn những thức ăn có lợi cho xương, nghĩa là có nhiều chất vôi (Calcium) và sinh tố D

. Tập thể dục thường xuyên gồm những độc tác như mang tạ và làm mạnh xương

. Có cuộc sống lành mạnh, không hút thuốc, không uống nhiều rượu, bia.

Các phương pháp chữa trị:

Nếu đang bị loăng xương, và dù đă bị găy xương rồi, cũng chưa hẳn đă quá muốn để bắt đầu việc chữa trị. Ngoài việc làm ngưng sự mất mát của tế bào xương, những loại thuốc được chế biến gần đây c̣n làm cho xương mạnh thêm nữa. Quư vị nên thảo luận với các bác sĩ hoặc những nhà chuyên môn về xương xem loại thuốc nào phù hợp với ḿnh nhất.

Thuốc trị loăng xương

Những loại thuốc có sẵn hiện nay để trị loăng xương gồm:

Bisphosphonates

Thuốc Bisphosphonates là những loại thuốc không có chứa kích thích tố nhằm giúp tăng độ đặc của xương. Thuốc này gồm 3 loại chính: Thuốc có chất Risedonate - Thuốc có chất Alendronate - Thuốc có chất Etidronat. Những thuốc này có tác dụng làm tăng độ đặc của xương và giảm thiểu các trường hợp bị găy xương. Nó c̣n giúp cho những người đang dùng corticosteroids ngừa loăng xương.

Phản ứng bất lợi khi dùng các thuốc Bisphosphonates

Phản ứng bất lợi thường ít xảy ra nhưng có thể gồm các chứng liên quan đến đường ruột, đau bụng dưới, nhức bắp thịt hay khớp xương, buồn nôn, nóng ban tử, hoặc gây khó chịu ở thực quản. Một biến chứng ? ra nhưng có gặp là xương hàm bị chết-nhưng trường hợp này chỉ xảy ra ở những người dùng thuốc số lượng cao.

Thuốc điều ḥa lượng kích thích tố nữ (SERMs)

Thuốc điều ḥa lượng kích thích tố nữ (Selective Oestrogen Receptor Modulators) tương tự như các loại thuốc dùng trong phương pháp. Điều trị các triệu chứng tắt kinh bằng kích thích tố nữ (Hormone Replacement), nhưng khác với các phương pháp vừa kể, các thuốc này không ảnh hưởng đến vú hay tử cung. Nghĩa là chúng làm mạnh xương nhưng không làm gia tăng nguy cơ ung thư vú hay tử cung.

Một loại thuố SERM chính bán trên thị trường là thuốc có chất Raloxifene (nhăn thuốc Evista) để trị loăng xương. Nó làm tăng độ đặc của xương làm giảm nguy cơ đốt xương sống bị nghiền.

Phản ứng bất lợi khi dùng các thuốc điều ḥa lượng kích thích tố nữ (SERMs)

Thuốc có thể làm tăng những trường hợp cơ thể bị nóng bức, khó chịu trong giai đoạn tắt kinh, và cũng có thể làm máu đóng cục trong tĩnh mạch.

Phương pháp điều trị bằng kích thích tố (Hormone Therapy)

Phương pháp này làm giảm việc mất tế bào xương và làm tăng độ đậm đặc của xương ở cả xương sống và xương hông, và làm giảm nguy cơ găy xương của phụ nữ sau khi tắt kinh. Phương pháp Hormone Therapy thường được dùng dưới dạng thuốc viên hoặc cao dán trên da.

Tuy nhiên những nghiên cứu mới đây cho thấy phương pháp Hormone Therapy có thể làm tăng đôi chút tỷ lệ ung thư vú, chứng tai biến mạch máu năo và cơn đột quỵ tim. V́ lư do này, các bác sĩ đề nghị không nên dùng phương pháp điều trị bằng kích thích tố (HT) để ngừa loăng xương trong thời gian dài. Nhưng phương pháp này thực sự có hiệu quả trong việc trị các triệu chứng khó chịu trong thời kỳ tắt kinh, nên nhiều người vẫn dùng phương pháp này.

Kích thích tố tuyến cận giáp trạng-PTH (tên nhăn thuốc là Forteo)

 Teriparatide, một hóa chất thuộc dạng kích thích tố tuyến cận giáp trạng, được dùng để trị chứng loăng xương ở phụ nữ sau thời kỳ tắt kinh và ở nam giới có nguy cơ găy xương cao. Nó thuộc về một nhóm thuốc có tên “tác tố tạo cốt” (“bone formation agent”), giúp cho cơ thể tạo thêm các xương mới. Ngừơi dùng phương pháp này phải chích thuốc hàng ngày trong ṿng 24 tháng.

Phản ứng bất lợi của PTH: có thể gây buồn nôn, chân bị vọp bẻ, chuột rút và choáng váng.

Các loại thuốc mới giới thiệu trên thị trường:

Strontium Ranelate (tên nhăn thuốc là Protos)

Chất strontium trị chứng loăng xương ở phụ nữ sau khi tắt kinh và làm giảm các nguy cơ bị găy xương. Thuốc Protos đóng gói dưới dạng bột, dễ tan trong nước, được dùng hàng ngày.

Ibandronate Sodium (tên nhăn thuốc là Boniva)

Chất Ibandronate là một loại bisphosphate mới được dùng để ngăn ngừa và điều trị chứng loăng xương ở phụ nữ sau tắt kinh. Thuốc làm giảm sự mất tế bào xương, tăng độ đặc của xương và giảm trường hợp xương sống bị găy. Thuốc được dùng một tháng một lần, và uống cùng một ngày trong tháng.

Những thuốc nêu trên chỉ được chỉ định cho từng trường hợp cụ thể khi đă xác định được nguyên nhân gây loăng xương. C̣n tất cả các trường hợp loăng xương dù đă xác định được nguyên nhân hay chưa (nguyên phát hay thứ phát), việc chữa trị đều cần đến thuốc bổ xương có chứa chất vôi (calcium)

Thuốc bổ có chất vôi (Calcium)

Những phụ nữ đă vào thời kỳ tắt kinh, các vị thuộc phái nam đă lớn tuổi cần một lượng chất Calcium 1000 mg-1300 mg mỗi ngày. Nếu hàng ngày thức ăn không đủ cung cấp lượng Calcium như trên, quư vị cần thảo luận với bác sĩ để được chỉ định một thuốc Calcium thích hợp.

Vitamin D

Vitamin D quan trọng trong việc giúp cho cơ thể hấp thu lượng Calcium cần thiết. Vitamin D có trong ánh mặt trời, trong một số loại thức ăn và thuốc bổ. Một số người thiếu vitamin D hơn những người khác, thí dụ người già ít khi ra khỏi nhà, những người được chăm sóc tại viện dưỡng lăo, những người da màu hoặc những người v́ lư do tôn giáo phải mặc quần áo che kín người.

Nguyên tắc khi dùng thuốc:

. Được sự kê toa của bác sĩ

. Thảo luận với người bác sĩ hoặc dược sĩ về các loại thuốc mới và cần biết rơ:

   o Tên thuốc

   o Tại sao ḿnh cần dùng thuốc này

   o Dùng thuốc như thế nào

   o Phản ứng bất lợi của thuốc nếu có

   o Nếu cơ thể có phản ứng khó chịu với thuốc cần phải làm ǵ

   o Bị rắc rối về thị lực (tầm nh́n)

   o Cơ thể dễ bị mất thăng bằng và bắp thịt yếu

Phương pháp tập thể dục nào tốt nhất để giúp cho xương rắn chắc?

Bất cứ phương pháp tập thể dục nào đó đ̣i hỏi cơ thể của quư vị phải chịu sức nặng của chính nó và đ̣i hỏi quư vị phải chạy, nhảy đều giúp tạo xương mới và tránh cho xương khỏi bị hao ṃn. Đi bộ, chạy, khêu vũ, đánh vợt, bóng chuyền, cử tạ và đánh bóng rổ, đều có lợi cho xương cả (bơi lội không phải là môn thể dục có lợi cho xương)

Những lời khuyên hữu ích cho việc tập thể dục

. Muốn gây tác động trên xương, việc tập thể dục cần phải THỪƠNG XUYÊN và TƯƠNG ĐỐI MẠNH BẠO. Tốt nhất nên tập NHIỀU động tác thể dục khác nhau. Tập những động tác thể dục NGẮN GỌN, MẠNH MẼ (thí dụ cử tạ hay đi bộ thật nhanh trong 15 phút) có lẽ có lợi cho xương hơn là việc đi bộ “nhàn hạ” một tiếng đồng hồ.

. Tập thể dục ngày 2 lần (20 phút) mỗi lần cách nhau 8 tiếng đồng hồ, có lợi cho xương hơn là tập 1 lần.

. Tập lúc đầu chậm, rồi từ từ tăng tốc độ.

. Những động tác nhằm làm mạnh các bắp thịt, tạo thăng bằng và cải thiện sự phối hợp các vận động của cơ thể giúp tránh được sự té ngă. Tập Thái Cực Quyền và các loại thể dục tương tự (như yoga Pilates và các động tác yoga nhẹ nhàng) đều giúp tránh được bị ngă.

Tập thể dục để giúp cho chứng loăng xương

Nếu đă bị chứng loăng xương và đă từng bị găy xương rồi, quư vị nên hỏi ư kiến bác sĩ hay nhân viên vật lư trị liệu trước khi bắt đầu chương tŕnh tập thể dục.

. Khởi đầu bằng chương tŕnh làm mạnh xương và bắp thịt cơ bản

. Ghi danh vào một lớp dạy ngăn ngừa việc té ngă

. Nếu bị găy xương rồi quư vị nên

   o Tránh các động tác gây sự va chạm, tránh văn vẹo cơ thể hoặc nhảy nhót

   o Tránh những cử động gây những va chạm đột ngột, bất ngờ

   o Tránh những động tác làm cho phải gập người lại

   o Tránh việc cúi xuống, ngửa lên

   o Tránh nhấc những vật nặng.

Tránh té ngă

Tập thể dục giúp cho tư thế, sự cân bằng của cơ thể tốt và bắp thịt mạnh mẽ thường ít khi bị ngă và do đó ít bị thương tích. Thí dụ, những phụ nữ phải ngồi một ngày chín tiếng dễ bị găy xương hông hoặc những phụ nữ ngồi làm việc sáu tiếng một ngày. Một số các chương tŕnh tập thể dục đặc biệt có thể giúp tránh được nguy cơ bị té ngă khoảng 20% và cũng có thể giúp tránh bớt được những thương tích trầm trọng.

TẬP THỂ DỤC ĐỂ NGỪA CHỨNG LOĂNG XƯƠNG VÀ TRÁNH TÉ NGĂ

Tập thể dục giúp cho xương được rắn chắc, tránh được việc té ngă và găy xương, đồng thời giúp cho quư vị phục hồi nhanh chóng hơn sau khi xương bị găy. Một số phương pháp tập thể dục có ích cho cơ thể hơn những phương pháp khác.

Việc tập thể dục giúp cho xương của trẻ em được rắn chắc hơn

Xương có rắn chắc hay không tùy thuộc trước hết vào việc xương được cấu tạo như thế nào. Đối với nhiều người, xương của họ rắn chắc và mạnh mẽ nhất ở lứa tuổi hai mươi. Sau đó, độ đặc của xương bắt đầu giảm đi. Muốn cho xương được mạnh mẽ, rắn chắc, các em cần có đủ lượng chất vôi cần thiết cho thức ăn hàng ngày. Cơ thể các em cũng cần có đủ lượng vitamin D để giúp các em hấp thu chất Calcium. Ở ngoài nắng một thời gian ngắn giúp cho cơ thể sản xuất đủ lượng vitamin D cần thiết.

Ngay cả trước giai đoạn dậy th́, vấn đề tập thể dục rất quan trọng trong việc giúp cho xương rắn chắc. Đối với sự phát triển của xương, không bao giờ quá sớm (hoặc quá muộn) để bắt đầu cho xương mạnh mẽ, rắn chắc cả. Xương ở cơ thể của các em gái năng động rắn chắc hơn 40% xương của những em gái ở cùng lứa tuổi nhưng không chịu hoạt động.

Tập thể dục giúp xương rắn chắc ở người lớn

Tập thể dục có thể giúp cho xương mạnh mẽ và rắn chắc hơn ở người lớn. Xương bắt đầu ṃn dần ở cơ thể bốn mươi. Trong những năm bắt đầu đến tuổi trung niên, tập thể dục rất quan trọng trong việc giúp cho xương được rắn chắc, cũng như làm tăng sức mạnh của bắp thịt, sự dẻo dai của tim và phổi.

Tập thể dục giúp cho xương rắn chắc ở các vị lớn tuổi và giúp tránh được té ngă    

Mục đích của việc tập thể dục trong nhóm các vị lớn tuổi tùy thuộc vào vấn đề xương của họ có rắn chắc và khỏe mạnh không. Nếu chưa bị loăng xương, điều quan trọng là quí vị nên tập thể dục để cho xương và bắp thịt mạnh mẽ. Tập thể dục c̣n giúp cải thiện sự thăng bằng của cơ thể. Tập thể dục c̣n giúp cải thiện sự thăng bằng của cơ thể, tư thế ngồi, đứng và điều khiển các cử động của cơ thể.

Tập thể dục cho tư thế và sự thăng bằng của cơ thể được vững chăi.

Những người bị chứng loăng xương dễ bị găy xương hơn những người xương rắn chắc b́nh thường. Xương bị găy thường là do bị ngă. Những vị lớn tuổi dễ bị găy xương hơn v́ họ có khuynh hướng dễ ngă hơn. Hàng năm có khoảng 40% những người trên 65 tuổi bị ngă ít nhất là một lần. Tránh bị ngă có nghĩa là xương ít bị găy hơn, đặc biệt là xương hông. Đa số các trường hợp găy xương hông là do bị té ngă mà ra.

Việc ngă đôi khi có thể tránh được. Những người có  tư thế đi, đứng, nằm, ngồi vững chăi, cơ thể thăng bằng và bắp thịt mạnh mẽ ít khi bị ngă hơn và do đó ít bị thương tích hơn. Ngược lại, những người ít hoạt động dễ bị găy xương hông hơn những người năng hoạt động. Có nhiều nguyên nhân gây ra sự té ngă, nhưng những nguyên nhân chính có thể gây nguy hiểm cho quư vị hơn gồm:

. Đă từng bị ngă rồi

. Đang dùng nhiều loại thuốc khác nhau

. Bị các chứng bệnh kinh niên

. Bị các chứng viêm khớp, đặc biệt là ở chân.

Các chươngtŕnh tập thể dục dành cho các vị lớn tuổi thay đổi tùy theo nhu cầu của từng người, và việc làm tăng từ từ sức mạnh của bắp thịt, cải thiện sự thăng bằng của cơ thể và việc đi bộ.

Sự thăng bằng của cơ thể

Bắp thịt yếu, những thay đổi về áp huyết hoặc nhịp đập tim, ảnh hưởng của thuốc men, rắc rối ở tai và ngay cả việc ăn uống không đúng cách có thể làm ảnh hưởng sự thăng bằng của cơ thể.

Ngoài việc tập thể dục thường xuyên, quí vị có thể cải thiện cơ thể bằng cách:

. Hỏi ư kiến bác sĩ hay chuyên viên vật lư trị liệu về việc tập thể dục để cải thiện sự cân bằng của cơ thể.

. Duy tŕ việc ăn uống lành mạnh gồm ăn nhiều trái cây và rau cũng như thức ăn giàu chất vôi.

. Uống thật nhiều nước mỗi ngày.

. Nghĩ đến việc tham gia một chương tŕnh hướng dẫn về việc té ngă và sự thăng bằng của cơ thể (“fall and balance”)

Những lời khuyên giúp tránh việc té ngă

Chung quanh nhà

. Bảo đảm là những mép thảm trải nhà, thảm trải sàn không con lên hay gặp gây vấp ngă.

. Không để dây điện ḷng tḥng ở những nơi thường đi lại

Tránh đi lại những nơi ướt át, trơn trượt

. Đảm bảo pḥng ốc trong nhà sáng sủa và lối đi lại gọn gàng

. Nên nghĩ đến chuyện gắn tay vịn ít nhất là ở một bên cầu thang, cạnh bồn tắm, ṿi bông sen và bồn cầu.

. Nêu nghĩ đến chuyện gắn những miếng làm cho giày, dép không bị trơn trượt (safety strips) ở cạnh các bậc thang ở ngoài nhà.

Mắt và tầm nh́n

. Bảo đảm những chỗ đi lại và ngoài nhà được sáng sủa để quí vị có thể nh́n thấy rơ bất cứ lúc nào.

. Thường xuyên đến nhân viên quang cụ (optometris) nhờ khám mắt hàng năm.

. Nếu phải đeo kính, nên làm như đă được dặn. Cẩn thận khi lên xuống cầu thang nếu đeo kính hi hay ba tṛng (Bofocals hay trifocals).

. Khi ở ngoài nắng nên đeo kính mát để làm giảm những tia nắng quá chói và tránh phải nheo mắt đồng thời tránh cho tia cực tím (UV) trong ánh mặt trờ làm hư hại mắt.

Giày dép

. Nên mang giày dép có rộng bản, để không trơn trợt và ôm lấy bàn chân

. Nên mang giày dép, với có kích thước đúng với bàn chân của ḿnh

. Chọn giày ôm vừa vặn bàn chân

. Tránh đi giày cao gót

Nói tóm lại

. Nên vận động thường xuyên, kể cả việc tập các động tác thể dục giúp cho tư thế và sự thăng bằng của cơ thể được mạnh mẽ

. Đi khám mắt thừơng xuyên

. Đi khám thính lực thừơng xuyên

. Sau khi nằm hay ngồi, khi đứng lên nên từ từ để cơ thể có đủ thời giờ lấy lại thăng bằng .

. Tránh những lối đi ướt át hay bị đóng băng

. Tránh vội vă chạy lại trả lời điện thoại, băng qua đường, lên thang máy hoặc trong bất cứ sinh hoạt nào khác.

. Nên chống gậy hay dùng một dụng cụ nào đó để giữ thăng bằng khi đi lại nếu cần

. Tránh bước đi trên những chỗ gồ ghề

. Hạn chế trong việc uống rượu bia

. Nếu thấy có những lúc thấy choáng váng hay đứng không vững nên cho bác sĩ biết

. Nên thảo luận với bác sĩ thường xuyên về việc dùng thuốc và hỏi họ xem h́nh có cần dùng chúng nữa hay không. Nhiều loại thuốc có thể làm cho cơ thể mất thăng bằng.

Trích tài liệu của Hội Loăng xương TP.HCM