Hậu quả của silicone lỏng chích dưới da
và biện pháp khắc phục

TS.BS. Lê Hành

Khoa Phẫu thuật thẫm mỹ

BV. Chợ Rẫy

I. ĐẠI CƯƠNG

Chích một chất lỏng dưới da để bù đắp vào những khiếm khuyết trên cơ thể trong mục đích thẩm mỹ hay tạo h́nh là một phương pháp đă quyến rũ bao thế hệ phẫu thuật viên. So với việc dùng những chất độn đặc, cứng đă có từ lâu, lịch sử của những chất độn lỏng h́nh như chỉ bắt đầu vào cuối thế kỷ thứ 19. Những chất lỏng có độ quánh cao có nguồn gốc thực vật hay động vật đă được dùng. Khởi đầu là paraffin, đến lanolin rồi silicone cùng các hợp chất của nó, chưa có một chất nào thực sự vô hại để có thể chích vào cơ thể. Một chất độn lư tưởng phái đạt được những tiêu chuẩn như sau:

·        Không gây phản ứng tại chỗ.

·        Không có tính kháng nguyên.

·        Không gây ung thư.

·        Trơ về hóa học cũng như vật lư học.

·        Không độc và không kích thích phản ứng toàn thân.

·        Không thay đổi với thời gian, sức nóng và áp suất.

·        Không là môi trường cho vi trùng phát triển.

·        Dễ tiệt trùng và dễ sử dụng.

·        Không đắt tiền.

Silicone (dimethylpolysiloxane) lỏng thỏa được phần nào những tiêu chẩun trên nên đă được dùng nhiều và dùng lâu nhất với nhiều thành công và thất bại.

Silicone là một chất đồng phân của một chuỗi đơn vị cơ bản gồm silic, oxy và một gốc hữu cơ (CH3-Si-0-CH3). Chất này được sử dụng trong nhiều ngành kỹ nghệ. Chỉ loại đặc biệt thuần chất mới được dùng trong y khoa và đầu tiên được chế tạo bởi công ty Dow-Corming Corporation thành nhiều dạng như lỏng, resins, dạng xốp và dạng dẻo (Silastic).

Do tính gần như “trơ” về hóa học, silicone được dùng rất rộng răi trên người. Khó thể h́nh dung mức độ sử dụng silicone: silicone bọc trên kim để giảm đau khi chích, trong ống chích để piston di chuyển dễ dàng, uống chống trào ngược dịch vị nhờ khả năng che phủ, chống đầy hơi; silicone lỏng được chích dưới da để chữa chứng teo một bên mặt (FDA cho phép) hay chích nội nhăn sau khi mổ lấy thủy tinh dịch để tránh bệnh vơng mạc tiến triển nặng, Silicone với độ dẻo khác nhau được dùng trong phẫu thuật tạo h́nh mặt, chế tạo van tim, các ống catheter, ống thông dạ dày, ống chích mạch máu, ống dẫn lưu dịch năo tủy, vậy cấy dương vật, tinh hoàn giả, bao máy trợ nhịp tim, khớp giả bàn tay hay chân… Trong thẩm mỹ, silicone dùng làm túi độn trên vùng mặt: mũi, cằm, má, hàm…

Silicone lỏng có hai lợi điểm hơn hẳng so với các loại khác, một là có thể dùng với một lượng thật nhỏ và hai là đưa được vào người mà không cần mổ.

Medical Grade Fluid MDX 44011 c̣n được gọi là “mỡ nhân tạo”. Chất này được chế biến với nhiều độ quánh khác nhau, tính bằng đơn vị centistoke (độ quánh của nước là 1), loại thông dụng nhất là 350 centistokes. Chất có độ quánh cao th́ giữ được khối lượng, ít chảy đi nơi khác hay ít bị hấp thu.

II. T̀NH H̀NH SỬ DỤNG SILICONE LỎNG

- Trong ngành y, ở Âu Mỹ việc dùng silicone lỏng bắt đầu từ cuối thập niên 40 để bù đắp những khiếm khuyết của mô mềm.

- Việc sử dụng bao giờ cũng dè dặt v́ những khuyến cáo về tác hại của silicone lỏng trong cơ thể thường đi đôi với những báo cáo thành công (từ thời Rowe, Sencer, Bass, 1948).

- Ít dùng hẳn từ cuối thập niên 60 do tổng kết được những di chứng đáng sợ. Trừ dùng trong vài bệnh lư đặc biệt như teo một bên mặt nguyên phát.

- Ở Á Châu, vùng Đông Nam Á, silicone lỏng được dùng khá thông dụng, nhất là trong những thập niên 60 và kéo dài cho đến thập niên 80, thậm chí cho đến nay silicone lỏng vẫn tiếp tục được chích…! Chủ yếu trong mục đích thẩm mỹ để làm tăng thêm thể tích ở mọi vùng cần thiết trên cơ thể.

- Lư do:

* V́ tŕnh độ tri thức kém của người chích lẫn người được chích?

* V́ thao tác quá dễ dàng cho một kết quả đạt được về mặt thẩm mỹ cũng như lợi nhuận?

* V́ tố chất di truyền của người Á đông chỉ cho họ một ngoại h́nh quá khiêm tốn buộc phải được sửa chữa nhiều hơn…?

- Số lượng bệnh nhân bị phản ứng với silicone khá lớn. Đó là hậu quả tích lũy từ hơn 30 năm nay của một kỹ thuật tai hại được áp dụng liên tục. Trong quá khứ, dường như mọi “thẩm mỹ viện” đều từng có chích Silicone lỏng.

- Điều nguy hiểm là con số bệnh nhân bị bệnh c̣n liên tục tăng v́ việc chích silicone lỏng này hằng ngày hằng giờ vẫn đang được tiến hành đây đó. Tuy không c̣n được dùng trong những cơ sở thẩm mỹ đúng đắn, silicone lỏng đang được tiếp tục dùng bởi những kẻ ngoài ngành y tế, tập trung ở tỉnh lẻ, vùng xa, trong một tiệm uốn tóc nghèo nàn vùng biên giới hay chỉ với hành trang của một chị làm móng tay dạo ngoài chợ. Càng nguy hiểm hơn là chất lượng của cái gọi là “mỡ nhân tạo” này th́ không thể kiểm soát được.

III. VÀI BIỂU HIỆN BỆNH LƯ

Silicone lỏng nằm dưới da không những chỉ tạo nên những bệnh tích nặng nề về mặt thẩm mỹ mà c̣n gây ra những phản ứng mẫn cảm thực sự ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và năng suất lao động của bệnh nhân.

Đối với bệnh nhân, thường là phụ nữ - nhưng nam giới cũng không phải hiếm – th́ nỗi khổ tâm nhất của họ là v́ thân thể càng ngày càng xấu đi, tồi tệ hơn. Thêm vào đó c̣n nỗi đau triền miên v́ vùng bị phản ứng luôn sưng, luôn nhức. Lạc thú ở đời cạn kiệt do một chế độ ăn uống kiêng khem khắc nghiệt cùng với nỗi lo sợ ngày kia silicone sẽ hóa ung thư. Kiểu cách sống khép kín dần không c̣n chỗ cho những nguồn vui đời thường t́m đến. Hy vọng héo tàn qua bao lần chữa trị, mổ xẻ, vừa hao tốn, vừa đau đớn mà kết quả thường tệ hơn.

Tại chỗ, sự tồn tại của chất silicone lỏng diễn biến xấu dần đi theo nhiều cách, tùy theo phản ứng của chủ thể, theo loại silicone được dùng, theo liều, số lần chích và kỹ thuật chích mà có thể nhanh hay chậm, nặng hay nhẹ.

A. Về đại thể:

* Theo trọng lực xuống phía dưới, làm “chảy xệ” vùng được chích, (ở mi mắt, má, cằm, môi, ngực, mông… ngày càng trầm trọng theo tuổi đời chồng chất).

* Cô lập lại thành từng nhóm hạt trong suốt, kích thước từ bằng đầu ngón tay cái cho đến bằng hạt cát long lanh. Tổn thương này thường gặp khi silicone được chích vào mô mỡ như ở các vùng má, ngực, mông, đùi. Sờ nắn từ ngoài da vùng bị sưng, có thể nhận thấy được các hạt silicone lổn nhổn bên dưới.

* Túi xơ “co rút” là một tổn thương đặc biệt của cơ thể, kể cả đối với các chất silicone dẻo như túi độn ngực. Xuất hiện một bao bằng mô xơ quanh túi ngày càng dày lên và siết chặt lấy túi độn, gây nên những biến dạng trầm trọng: vùng ngực bị cứng lại và đau khi sờ đến, méo mó, mất cân đối, bị kéo lệch khỏi vị trí b́nh thường… Biến chứng này khó tránh, tùy kỹ thuật thực hiện, tỷ lệ thay đổi, có thể đến 10%.

* U silicone (Siliconoma) [Benhur, Newman, 1965] - Tổn thương xơ cứng, chai sượng, thâm nhiễm vào các mô lành chung quanh. Dưới mắt thường, mô bệnh màu trắng ngà, đục, ngă sang màu vàng hoặc hồng. Không c̣n phân biệt được đâu là silicone, đâu là da thịt mà chỉ là một khối như cao su cứng chắc ôm siết lấy mạch máu, thần kinh, gân cơ, vào da, vào xương, vào sụn. Sự tồn tại của chất lạ kích thích không ngừng phản ứng viêm. Ở đâu có silicone th́ nơi đó có phản ứng. Vùng bệnh sưng tấy từng đợt, lồi lơm không đều kết hợp với dị cảm như ngứa, đau nhức. Bệnh tích có khuynh hướng lan rộng ra, ngày càng cứng hơn để cuối cùng có thể rắn lại như sụn. Vùng bị chích có thể bị hoại tử, loét da do thiếu máu nuôi.

Hơn nữa phản ứng này c̣n bị thúc đẩy bởi những kháng nguyên hấp thu từ ngoài vào từ mọi ngă (đường ăn, đường thở, da) đặc biệt là cả với những chất mà trước khi chích silicone bệnh nhân hoàn toàn không có dị ứng với chúng. Sự tiến triển không ngừng của mô viêm dẫn đến t́nh trạng biến dạng trầm trọng các vùng bị chích silicone.

Đây là những tổn thương thường gặp ở mũi, cằm, mu bàn tay, bàn chân, nơi silicone được chích vào trong mô liên kết. Tuy nhiên vùng mô mỡ chiếm ưu thế như ngực, mông và đùi cũng không thoát khỏi bệnh tích này.

B. Về mặt vi thể: đó là h́nh ảnh của cấp độ phản ứng viêm.

* Có thể chỉ là h́nh ảnh tầm nhận các tế bào tṛn ở những vùng mới chích.

* Nếu chích nhiều silicone, các vách ngăn bằng mô sợi lót bởi những tế bào liên kết có dạng nội mạc được tạo thành phân chia khối dị vật ra thành từng kén.

* U silicone (siliconoma) chất collagen được tạo lập tăng lên trong mô liên kết dưới da, phá vỡ cơ cấu của vùng b́ và dưới b́ cùng với sự hiện diện của các mô bào, tân bào và những tế bào khổng lồ ăn dị vật chứa đầy silicone. Bằng chứng của t́nh trạng thực bào là sự hiện diện của các tế bào lớn, tṛn, chứa không bào lớn. Nhân tế bào dẹp lại, bị đẩy ra sát ngoại biên như các tế bào mỡ.

Thông thường, những tổn thương nặng do silicone gây ra là do sự phối hợp của nhiều loại bệnh tích trên.

VẤN ĐỀ CHIẾN LƯỢC: XEM VÙNG MÔ NHIỄM SILICONE NHƯ MỘT KHỐI U.

Phẫu thuật lấy mô nhiễm silicone phải là một sự kết hợp của sự cắt bỏ rộng, triệt để của một phẫu thuật khối u với tính bảo tồn, tái tạo của một phẫu thuật thẩm mỹ và tạo h́nh.

Sự cắt bỏ phải đi đôi với tái tạo.

Phẫu thuật lấy mô nhiễm silicone phải là một kết hợp của sự cắt bỏ rộng, triệt để của một phẫu thuật khối u với tính bảo tồn, tái tạo của một phẫu thuật thẩm mỹ và tạo h́nh.

Sự cắt bỏ phải đi đôi với tái tạo.

Phẫu thuật muốn thành công, phải lấy hết silicone v́ bệnh căn là một phản ứng dị ứng, đào thải chất lạ. Silicone lỏng thường chảy lan tỏa trong các mô, giữa thần kinh và mạch máu… Muốn lấy triệt căn mô silicone phải cắt bỏ cả những cấu trúc này.

Những vùng cơ thể được chích silicone thường là những vùng trọng điểm về thẩm mỹ trên cơ thể, v́ vậy, cần nghiên cứu một phương pháp phẫu thuật phù hợp:

- Cho một lối vào đủ rộng để lấy hết bệnh tích.

- Là một đường mổ thẩm mỹ, để lại sẹo tối thiểu trên da mặt.

- Kết hợp với một biện pháp tái tạo hiệu quả.

 

 

IV. ĐIỀU TRỊ:

A. Vùng mũi:

Việc chữa trị này gần như chỉ là kinh nghiệm của từng cá nhân. Những thông báo về cách chữa trị loại bệnh tích này trong y văn xuất bản trên thế giới rất hiếm hoi v́ việc chích silicone lỏng vào người nhằm mục đích thẩm mỹ gần như chỉ được thực hiện trong những nước ở Á châu.

1. Nội khoa:

Thực tế cho thấy tất cả những phương pháp bảo tồn đều thất bại và làm t́nh trạng bệnh xấu đi v́ thường gây hư hại thêm cho mô chung quanh và kích thích thêm phản ứng. Dễ nghĩ đến và dễ làm nhất có lẽ là dùng ống chích để hút chất silicone trong cơ thể ra, v́ ngày trước silicone cũng được đưa vào bằng ống chích mà. “Sáng tạo” hơn, có người dùng dao rạch những vết nhỏ trên da rồi hút silicone ra bằng ống giác!

Chích kích thích tố thượng thận tác dụng chậm, nhất thời cải thiện ngoạn mục t́nh trạng bệnh. Nhưng các phản ứng viêm xuất hiện lại, c̣n nặng hơn trước, sau khi thuốc hết tác dụng. Da và mô dưới da của vùng đó bị thoái hóa dần. Chưa kể đến những tác dụng phụ của thuốc trên toàn thân.

2. Phẫu thuật:

Các đường rạch da:

- Đường rạch da trong tiền đ́nh mũi, đường rạch da kiểu Jacques ở đầu trong hai cung mày hai bên, hoặc đừơng rạch giữa tiểu trụ, hoặc đường mổ ngay giữa mũi, dài từ rễ mùi đến chóp mũi… đều để lại sẹo.

Cần một đường mổ ấn vừa đủ rộng để có thể tấn công vào mọi ngơ ngách của tổn thương, vừa kín đáo để không gây sẹo quá đáng trên mặt:

- Đường mổ chỉnh h́nh mũi theo đường ngoài.

- Đường mổ lột găng – “Dedloving”.

Cần được hỗ trợ bởi một phẫu thuật tái tạo những di chứng về thẩm mỹ nặng nề như sụp tháp mũi, lơm, méo mó vùng cạnh mũi, vùng trán…

3. Tái tạo:

- Mô xương và sụn của chính bệnh nhân đă được dùng để ghép độn vào những vùng da thịt bị cắt bỏ đi v́ nhiễm silicone.

- Mô ghép đồng loại đông khô được xử lư theo một quy tŕnh công nghệ nghiêm nhặt và hiện đại đă mở ra một khả năng lớn đầy thuận lợi cho việc phục h́nh những tổn thương trên.

- Thanh Silicone dẻo và các mô ghép hỗ trợ.

- Gore Tek…

B. Các vùng khác:

- Thường khó lấy sạch silicone trên mặt. Phẫu thuật căng da mặt giúp cải thiện nhiều cấu trúc vùng mặt. Vấn đề: sự toàn vẹn của dây thần kinh VII.

- Cằm: là một vùng khó tái tạo.

- Môi: chỉ cải thiện về thẩm mỹ.

- Tay: kết quả kém v́ da tay, yếu, dễ hoại tử, đổi màu.

- Ngực: muốn lấy trọn th́ phải cắt bỏ mô mềm vú, gần như mổ ung thư.

V. BÀN LUẬN:

- Giới hạn của phẫu thuật là không thể lấy hết những vùng silicone đă thâm nhiễm vào những cấu trúc quan trọng như da (mũi, mí mắt)… c̣n silicone là c̣n phản ứng.

- Diện bóc tách rộng trong một vùng viêm nhiễm có nhiều mạch máu tân sinh gây chảy máu.

- Mô ghép để tái tạo nằm trong một nền viêm, xơ chai, quá mẫn, nhất là cùng với cơ địa nhạy cảm của bệnh nhân… tất cả những điều đó làm cho phẫu thuật trở nên rất khó khăn.

- Mục đích tạo h́nh đạt được nhiều hay ít tùy thuộc vào mức độ quan trọng về kích thước và mức độ bị thâm nhiễm của phần phải cắt bỏ, nhất là vào t́nh trạng tổn thương của da bên ngoài.

- Những mô ghép đồng loại đông khô đă dùng tỏ ra có độ tin cậy cao. Điều lợi ích trước tiên trong việc sử dụng mô ghép đông khô là bệnh nhân không phải chịu thêm một phẫu thuật thư hai hay thứ ba để lấy những mảnh ghép trên chính thân thể ḿnh.

- Vấn đề: sự bị hấp thu của các mô ghép.

- Có phản ứng với silicone lỏng nhưng vẫn dung nạp thanh silicone dẻo.

VI. KẾT LUẬN:

Với những cố gắng hết sức của phẫu thuật viên lẫn của bệnh nhân, bệnh tích do silicone lỏng gây nên nơi vùng mũi, mặt không c̣n là một vấn đề hoàn toàn nan giải, tuyệt vọng.

Việc cắt bỏ gần như triệt để mô nhiễm silicone vùng mũi kết hợp với kỹ thuật tái tạo đă đem lại những kết quả rất đáng khích lệ về sự lành bệnh cũng như thẩm mỹ để bệnh nhân có thể t́m lại đời sống b́nh thường trong cộng đồng.

Những bệnh tích do silicone lỏng gây ra trên toàn thân ở những vùng có các thần kinh quan trọng như thần kinh mặt ở vùng má, ở những vùng mà khối lượng phải tái tạo và tính thẩm mỹ cao như vùng ngực, mông…vẫn c̣n là một thử thách lớn cho y học.

Điều nguy hiểm là cả cho đến nay, khi mà những tác hại ghê gớm của sự chích silicone lỏng không c̣n xa lạ nữa, th́ công việc tưởng như là một sai lầm trong quá khứ này vẫn đang c̣n được tiếp tục đây đó. Vẫn c̣n những bệnh nhân đến khám với một vùng cơ thể sưng đỏ v́ mới bị chích silicone trong ṿng vài tháng. Những thao tác quá đơn giản so với tiền thù lao nhận được, kết quả nhanh chóng về mặt thẩm mỹ đă đưa đẩy người chích và người được chích đến với nhau trong mê muội. Cần tiếp tục những biện pháp ngăn chặn. Dĩ nhiên là phải kêu gọi đến lương tâm của những người chích kèm với sự xử lư hành chánh đúng mức các vi phạm. Nhưng điều quyết định là làm sao để không c̣n ai tư đặt ḿnh dưới mũi kim. Gánh nặng này đặt trước tiên trên vai ngành y tế và những phương tiện truyền thông đại chúng.