Sử dụng vitamin nào?

 

Một phụ nữ khỏe mạnh 54 tuổi, không hút thuốc, có chế độ ăn tạp, nhân một lần đến kiểm tra sức khỏe thường qui có hỏi về vấn đề bổ sung vitamin. Bà bày tỏ sự bối rối v́ có nhiều báo cáo và khuyến cáo mâu thuẫn nhau về vitamin. Hiện bà ta không sử dụng loại vitamin bổ sung nào.

Vấn đề lâm sàng

Sách vở y học dạy rằng đối với những người nói chung là khỏe mạnh, một ḿnh khẩu phần ăn có thể dễ dàng đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của họ. Tuy nhiên, những chứng cứ mới đây cho thấy việc bổ sung folic acid ở giai đoạn sớm của thai kỳ có thể làm giảm rất đáng kể tỷ lệ bị khuyết tật ống thần kinh. V́ vậy, ít ra trong một vài t́nh huống người ta vẫn sử dụng vitamin ở dưới mức tối ưu mà không có bất kỳ chứng cứ lâm sàng nào của sự thiếu hụt. Sự quan tâm của công chúng đối với việc bổ sung vitamin rất lớn, có đến khoảng 30% dân số Mỹ hiện đang sử dụng những thuốc bổ sung như vậy.

Chiến lược và chứng cứ

Một cách lư tưởng là việc sổ sung vitamin phải được lượng giá bởi những nghiên cứu dự pḥng ngẫu nhiên với các điểm kết lâm sàng đo đạc được. Tuy nhiên, những loại nghiên cứu như vậy phức tạp và kết quả có thể giả tạo. Trước hết, ai cũng sử dụng vitamin ở một mức độ nào đó, do đó tác dụng của một loại vitamin bổ sung sẽ phụ thuộc vào số lượng được tiêu thụ trước đó của loại vitamin đă cho. Những người tham gia nghiên cứu thường có chế độ ăn tốt, cho nên kết quả nghiên cứu không mang lại hiệu quả ǵ cho việc bổ sung vitamin, không thể áp dụng trên những người có một chế độ ăn nghèo nàn hơn. Hơn nữa, nghiên cứu có thể quá ngắn để có thể khám phá tác dụng nào đó, đặc biệt như trường hợp của tỷ lệ mắc ung thư. Ngoài ra để tăng cường sức mạnh thống kê, nhiều nghiên cứu chỉ tập trung vào những người có nguy cơ cao mắc một bệnh nào đó hoặc những người đă có bệnh rồi. Nếu chế độ ăn không phải là nguyên nhân gây tăng cao nguy cơ, một cách tập trung như thế có thể che lấp những lợi ích có lẽ quan sát được trong nhóm dân số có nguy cơ trung b́nh. Nói chung, những kết quả dương tính rơ rệt thường là đầy thuyết phục nhưng những kết quả âm tính thường khó mà lư giải rơ ràng được.

Một thái độ xử trí không tán thành việc sử dụng bổ sung vitamin trừ phi lợi ích được chứng minh bằng những nghiên cứu ngẫu nhiên với những kết quả lâm sàng đo đạc được. Một thái độ khác là dùng tất cả những chứng cứ có được để cân nhắc giữa những lợi ích có thể có với những tác hại có thể xảy ra, đồng thời cũng xét đến vấn đề phí tổn điều trị. Chứng cứ có thể bao gồm kết quả của những nghiên cứu trên súc vật, những nghiên cứu ngẫu nhiên khảo sát các dấu ấn sinh học trung gian và những nghiên cứu quan sát dịch tễ với các điểm kết lâm sàng. Ví dụ tiêu thụ một lượng thấp của nhiều vi chất dinh dưỡng có thể làm tổn hại DNA (Ames BN, 2001), mặc dù tác động lâm sàng của tổn hại này chưa được biết rơ. Những nghiên cứu dịch tễ chứng minh có mối liên quan giữa tiêu thụ một lượng thấp của một chất dinh dưỡng và ngu cơ mắc bệnh cho thấy có một bộ phận dân chúng tiêu thị chất dinh dưỡng dưới mức tối ưu.

V́ thực phẩm gồm nhiều chất dinh dưỡng, việc phân biệt hiệu quả của từng chất dinh dưỡng khác nhau trong cùng một loại thực phẩm có thể gặp khó khăn. Ví dụ, một quan sát cho kết quả việc bổ sung beta-caroten liều cao ở những người hút thuốc lá không làm giảm nguy cơ mắc ung thư phổi, thậm chí có lẽ c̣n làm tăng thêm nguy cơ (Hennekens CH, et al. 1996). Điều này làm nổi bật mối nguy hiểm tiềm tàng của việc ngoại suy từ những nghiên cứu dịch tễ về tiêu thụ thực phẩm (ở đây là tiêu thụ rau quả và trái cây) sang những dạng cô đặc của một loại hóa dược duy nhất. Những nghiên cứu dịch tễ về bổ sung vitamin tự bản thân đă xác đáng hơn nhưng cần có những hiệu chỉnh thống kê kỹ lưỡng về các yếu tố khác thuộc lối sống v́ những người dùng thuốc bổ sung nói chung có lẽ có hành vi lành mạnh hơn những người không dùng thuốc. Tổng quan này tóm tắt những hiệu quả tiềm năng của những vitamin thường được dùng, với lưu ư rằng các y văn tương ứng phong phú hơn nhiều so với những ǵ có thể được liệt kê ở đây.

Folic Acid

Nhiều nghiên cứu dịch tễ cho thấy việc bổ sung folic aicd, đi kèm với việc giảm đáng kể nguy cơ bị khuyết tật ống thần kinh. Trong một nghiên cứu ngẫu nhiên, bổ sung folic acid liều cao làm giảm số trường hợp khuyết tật ống thần kinh tái phát đến 70% (Lancet 1991; 338:131-137). Một nghiên cứu ngẫu nhiên về sử dụng đa sinh tố có chứa folic acid (800mg/ngày) ở thai phụ không có bệnh sử thai kỳ có khuyết tật ống thần kinh đă phải ngưng sớm v́ lợi ích quá rơ rệt (Creizel AE 1992). Đây là lợi ích duy nhất của một đa sinh tố được xác định.

Mặc dù mối liên quan chưa được thử nghiệm trong các nghiên cứu ngẫu nhiên, nhưng chứng cứ thực tế gợi ư cho thấy là lượng tiêu thụ folic acid thấp làm tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch và nhiều loại ung thư. Trong nhiều nghiên cứu cho thấy nồng độ homocystein trong máu cao đi kèm với nguy cơ cao bị bệnh mạch vành (Welch GN. Loscalzo J. 1998). Tiêu thụ không đủ folic aicd và ở chừng mực ít quan trọng hơn vitamin B6 và vitamin B12 làm tăng nồng độ homocystein. Tiêu thụ lượng folic acid cao hơn, qua sử dụng đa sinh tố bổ sung (Rimm EB, et al. 1998) và nồng độ folat trong máu cao (Morrison Hl, et al. 1996), tất cả đều làm giảm nguy cơ mắc bệnh mạch vành.

Lượng tiêu thụ folic acid càng cao th́ càng ít nguy cơ mắc ung thư kết tràng (Giovannucci E, et al. 1995) và ung thư vú (Zhang S, et al. 1999; Rohan TE, et al. 2000); đặc biệt ở những người có nguy cơ gia tăng do uống rượu hàng ngày. Việc đa h́nh di truyền trong gen tổng hợp methylenetetrahydrofolat reductase (có liên hệ trong chuyển hóa folat) theo một vài nghiên cứu (Ames BN.1999) cho thấy làm tăng nguy cơ bị ung thư kết tràng, đă cung cấp thêm chứng cứ về mối liên quan giữa lượng tiêu thụ folic acid thấp và tăng nguy cơ bị ung thư kết tràng là mối liên hệ nhân quả. Rượu can thiệp vào chuyển hóa và hấp thu folat, điều này có thể giải thích có sự gia tăng nhu cầu cần folat ở những người nghiện rượu. Khi nồng độ folat thấp, uracil liên kết không phù hợp với DNA và bổ sung folic acid làm đảo ngược tiến tŕnh này (Blount BC, et al. 1997).

Mức tiêu thụ tối ưu folic acid vẫn chưa rơ là bao nhiêu. Lượng tiêu thụ 400mg/ngày làm giảm tối thiểu nồng độ homocystein máu ở đa số đối tượng (Selhub J, et al. 1993), nhưng có lẽ phải cần đến một lượng cao hơn để làm giảm nguy cơ mắc ung thư. Mặc dù có thể đạt mức folat 400mg/ngày bằng cách dùng thực phẩm tự nhiên, nhưng nếu chỉ với nguồn cung cấp này, mức tiêu thụ b́nh quân của người Mỹ chỉ vào khoảng 200mg/ngày. Từ năm 1998, chương tŕnh thực phẩm – tăng cường tại nước Mỹ đă thêm được khoảng 100mg/ngày. Như vậy, đa số người Mỹ vẫn c̣n tiêu thụ dưới 400 mg/ngày và những người có sử dụng multi-vitamin sẽ có nồng độ homocystein thấp hơn người không sử dụng (Jacques PF, et al. 1999).

 Vitamin B6

Mức tiêu thụ vitamin B6 thấp hơn 2mg (khẩu phần ăn hàng ngày khuyến nghị-RDA) đi kèm với nguy cơ gia tăng bị bệnh mạch vành, nhưng không rơ liệu sự kết hợp này có độc lập với mức tiêu thụ folic acid không (Rimm EB, et al. 1998). Thịt và rau quả là những nguồn thực phẩm cung cấp vitamin B6 chủ yếu; những người giảm ăn thịt đỏ mà không tăng mức tiêu thụ rau quả có thể có mức tiêu thụ vitamin B6 thấp.

 Vitamin B12

Nồng độ vitamin B12 thấp trong máu (cobalamin huyết thanh <258 pmol/L) cơ bản là do kém hấp thu ở những người lớn tuổi có độ acid dạ dày thấp, cũng kèm theo nồng độ homocystein cao (Selhub J, et al. 1993). 12% số người lớn tuổi có lẽ không đủ dự trữ vitamin B12 (Lindenbaum J, et al. 1994). Hậu quả của t́nh trạng vitamin B12 thấp vẫn chưa rơ nhưng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch máu (Selhub J, et al. 1995) và ung thư (Wu K, et al. 1999). Vitamin B12 tinh thể, dạng được dùng trong thuốc bổ sung, có thể được hấp thu mà không cần acid dạ dày, v́ thế một viên đa sinh tố (multivitamin) có thể đảm bảo đủ mức tiêu thụ cho phần lớn mọi người.

  Vitamin D

Chỉ phơi nắng không thôi có thể cung ứng đủ lượng vitamin D, nhưng ở Bắc Mỹ, bức xạ cực tím trong mùa đông không đủ để làm giảm đến mức tối thiểu nguy cơ bị loăng xương và găy xương (Holick MF. 1996. Trong số các bệnh nhân nhập viện một bệnh viện ở Boston, 57% bị thiếu hụt vitamin D (Thomas MK, 1998). Ít có thực phẩm tự nhiên có chứa vitamin D và sữa được làm giàu vitamin D là nguồn thức ăn cơ bản. Trong một nghiên cứu ở Phần Lan, việc tiêm vitamin D mỗi năm làm giảm nguy cơ bị găy xương khoảng 25% (Heikinheimo RJ, et al. 1992), nhưng trong một nghiên cứu khác tại Hà Lan lại không t́m thấy một lợi ích có ư nghĩa thống kê nào (Lips P, et al. 1996). Hiệu quả của việc bổ sung tùy thuộc vào khối lượng phơi nắng của từng người và mức tiêu thụ từ thực phẩm của người ấy. Tuy nhiên, chứng cứ hợp lư cho thấy nhiều người Mỹ sẽ có lợi nếu mức bổ sung đạt đến mức RDA (liều hàng ngày khuyến nghị) và 400 đơn vị quốc tế (400 IU), hoặc 8000 IU ở một số người (Utiger RD. 1998). Lượng tiêu thụ vitamin D lên đến 2.000 I.U mỗi ngày được xem là vẫn an toàn.

Vitamin A

V́ vitamin A hỗ trợ cho điều ḥa sự biệt hóa tế bào, lượng tiêu thụ cao có tiềm năng làm giảm nguy cơ mắc ung thư. Tuy nhiên trong máu nồng độ của vitamin A được kiểm soát chặt chẽ, và dù lượng tiêu thụ ở những người dinh dưỡng tốt có tăng nhiều cũng chỉ ảnh hưởng tối thiểu lên mức nồng độ này. Cả lượng tiêu thụ lẫn nồng độ trong máu của vitamin A được chứng minh nói chung là không có liên quan với nguy cơ mắc ung thư (World Cancer Research Fund/Amercan Institute for Cancer Ressearch, 1997). Bổ sung beta-caroten, một tiền chất của vitamin A, luôn thất bại trong việc làm giảm nguy cơ mắc ung thư theo như các nghiên cứu ngẫu nhiên.

Lượng tiêu thụ gấp đôi RDA của vitamin A (5000 IU) vẫn được cho là an toàn. Tuy nhiên tiêu thụ tiền thể vitamin A (retinol) trong phạm vi 10.000 IU/ngày hoặc hơn nữa - nhờ vào các thực phẩm giàu vitamin A (đặc biệt như gan, ngũ cốc ăn sáng được làm  giàu vitamin A, và các sản phẩm từ sữa) kết hợp với uống đa sinh tố chứa một hàm lượng RDA của retinol – có thể không được tán đồng. Việc tiêu thụ tiền thể vitamin A ở mức độ này kèm theo sự gia tăng nguy cơ bị găy khớp háng (Melhus H, et al. 1998) và việc tiêu thụ khoảng 10.000 IU mỗi ngày trong lúc mang thai có kèm theo những dị tật bẩm sinh (Rothman KJ, et al. 1995), nhưng c̣n cần chứng minh mối liên kết này.

Các chế phẩm đa sinh tố

Các bổ sung thông thường nhất là viên đa sinh tố mà điển h́nh gồm hàm lượng RDA của thiamin, riboflavin, niacin, folic acid, và các vitamin A, C, B6, D, K và E (bảng 1). Có một vài nghiên cứu lượng giá hiệu quả của bản thân viên đa sinh tố hơn là các thành phần riêng biệt của nó. Trong những nghiên cứu tiền cứu, việc sử dụng hàng ngày một viên đa sinh tố đi kèm với một nguy cơ thấp hơn của bệnh mạch vành (Rimm EB, et al. 1998), ung thư kết tràng (Giovannucci E, 1998: White E, 1997) và ung thư vú, đặc biệt ở những người nghiện rượu (Zhang S, et al. 1999). Trong một nghiên cứu ngẫu nhiên ở những người lớn tuổi, kết hợp đa sinh tố - đa khoáng chất giảm số ngày bị ốm đến một nửa (Chandra RK. 1992). Một bổ sung tương tự làm giảm số trường hợp bị đột qụi, cơ bản ở đàn ông, trong một quần thể bị thiếu dinh dưỡng ở Trung Quốc (Mark SD, et al. 1996). Những kết quả này cần được lập lại ở những nghiên cứu có bối cảnh khác.

Bảng 1: Hàm lượng dinh dưỡng của một viên bổ sung đa sinh tố nhằm cung cấp khẩu phần ăn khuyến nghị của các thành tố*

Vitamin

Hàm lượng trong một viên

Vitamin A+

5000 IU

Vitamin C

60 mg

Vitamin D

400 IU

Vitamin E

30 IU

Thiamin (B1)

1,5 mg

Rioflavin (B2)

1,7 mg

Niacin

20 mg

Folic acid

400 mg

Vitamin B12

6 mg

Vitamin B6

2 mg

Panthothenic acid

10 mg

* Hàm lượng của mỗi vitamin chứa trong mỗi viên cung ứng 100% khẩu phần ăn khuyến nghị của Hoa Kỳ.

+ 20% hoạt tính của vitamin A xuất phát từ beta coroten.

 

Bổ sung vitamin E

Bổ sung vitamin E phần lớn chứa từ 200 – 8000 IU, dẫn đến một lượng tiêu thụ lớn hơn rất nhiều so với RDA 30 IU và vượt xa hàm lượng đạt được bằng khẩu phần ăn. Liều cao vitamin E ức chế việc biến đổi LDL – Cholesterol sang dạng oxid-hóa và thêm nhiều tác dụng nữa có thể làm giảm nguy cơ bệnh mạch vành (Kushi LH, et al. 1996). Tuy nhiên, giá trị của vitamin E trong tự pḥng bệnh tim mạch vẫn c̣n là vấn đề tranh luận. Trong những nghiên cứu quan sát, tiền cứu gồm nhựng người được biết là không mắc bệnh tim mạch, việc dùng bổ sung vitamin E trong hai năm hoặc hơn nữa - phần lớn ở liều 400 IU/ngày – đi kèm với việc giảm 20 – 40% nguy cơ bị bệnh mạch vành (Rimm EB 2000). Một nghiên cứu tiền cứu khác lại cho kết quả âm tính nhưng nghiên cứu này gồm ít người sử dụng thuốc bổ sung và thông tin về thời gian sử dụng không được thu thập (Kushi và CS 1996).

Những nghiên cứu ngẫu nhiên đă được công bố, trái với những nghiên cứu quan sát nêu trên, cơ bản tập trung vào những người vốn đă có sẵn bệnh mạch vành, và kết quả của chúng lại mâu thuẫn nhau. Mặc dù số trường hợp bị nhồi máu cơ tim tái phát giảm được một nửa trong một nghiên cứu (Stephens NG và CS, 1996), nhưng bổ sung vitamin E (400 IU/ngày) lại không có tác dụng ǵ trên các biến cố tim mạch trong một nghiên cứu qui mô lớn hơn (Heart Outcomes Prevention Evaluation-N Engl J Med 2000; 342-154-160). Một nghiên cứu của Ư (GISSI – Prevanion trial 1999) cho thấy không có sự khác biệt đáng kể nào về toàn bộ các điểm kết tim mạch nhưng có giảm đáng kể tử suất do nguyên nhân tim (Lancet 1999: 354:447-455). Một nghiên cứu mới đây chứng tỏ có giảm đáng kể biến cố tim mạch ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo (Boaz M. et al. 2000) và một nghiên cứu khác cho thấy tỷ lệ tiến triển của bề dày lớp áo trong – áo giữa ở những người đàn ông (chứ không ở phụ nữ) được phân bố ngẫu nhiên sử dụng kết hợp vitamin E và vitamin C (Salonen JT, et al. 2000). Trong một nghiên cứu mới đây, vitamin E được t́m thấy không có hiệu quả ǵ ở những bệnh nhân có nguy cơ cao, tuy nhiên việc sử dụng thuốc bổ sung chỉ kéo dài có 3, 6 năm (Collaborative Group fo the Primary Prevention Project. 2001).

Như vậy, đa phần chứng cứ nghiêng về phía đối nghịch với quan điểm cho rằng bổ sung vitamin E ngắn hạn có lợi ích quan trọng ở  bệnh nhân đă có bệnh tim mạch đang được điều trị với nhiều loại thuốc. Nhưng lợi ích lâu  dài  của bổ   sung   vitamin E trong  dự  pḥng

cấp  I vẫn chưa được xác định rơ.

Người ta cũng đưa ra giả thuyết cho rằng bổ sung vitamin E làm giảm nguy cơ mắc ung thư. Không có lợi ích nào được t́m thấy riêng về ung thư vú và các số liệu về nguy cơ mắc ung thư kết tràng rất hỗn độn (Bostick RM, et al. 1993; Jacobs EJ, et al. 2001). Nghiên cứu Alpha Tocopherol Bate Carotene (1994) t́m thấy có giảm bất ngờ và đáng kể tỷ lệ mắc ung thư tiền liệt tuyến (N Engl J Med 1994:330:1029-1035) nhưng lại không giảm đối với các loại ung thư khác. Người ta cho rằng đây chỉ một kết quả t́nh cờ (Chan JM, et al. 1999). Một chứng cứ hiếm hoi gợi ư cho thấy vitamin E có thể làm chậm tiến triển của bệnh Alzheimer (Sano M, et al. 1997).

Lượng tiêu thụ vitamin E lên đến 1000IU/ngày nói chung được xem là an toàn (National Academy Press, 2000:529). Người ta t́m thấy có sự gia tăng không ư nghĩa số trường hợp bị đột quỵ do xuất huyết năo trong nghiên cứu Alpha Tocopherol Betacaroten, chỉ gồm những người đàn ông hút thuốc lá, nhưng một gia tăng như thế lại không t́m thấy trong một nghiên cứu thuần tập  bao gồm chủ yếu là những người không hút thuốc lá (Ascherio A, et al. 1999). Bổ sung vitamin E có thể làm tăng nhanh tiến triển bệnh ở BN vị viêm vơng mạc sắc tố (Berson EL, et al. 1993).

Bổ sung vitamin C

Ít thấy có chứng cứ ủng hộ quan điểm cho rằng việc bổ sung vitamin C ở hàm lượng vượt mức khẩu phần ăn tiêu biểu ở Hoa Kỳ hoặc vượt quá RDA hiện hành là 90mg đối với đàn ông và 75mg đối với phụ nữ (tăng thêm 35mg đối với những người có hút thuốc lá) là có lợi và việc bổ sung có thể chỉ mang lại hiệu quả tối thiểu v́ các tổ chức đă trở nên băo ḥa tại các mức độ tiêu thụ này (National Academy Press, 2000:529). Trong một nghiên cứu thuần tập, bổ sung vitamin C đi kèm với một nguy cơ bệnh mạch vành thấp hơn (Enstrom JE et al. 1992), nhưng phân tích số liệu đă không có đối chứng với sử dụng bổ sung vitamin E.

Nhiều nghiên cứu t́m thấy có sự liên kết giữa lượng tiêu thụ thấp vitamin C qua thực phẩm và gia tăng nguy cơ bị ung thư dạ dày (World Cancer Research Fund/American Institute for Cancer Research, 1997), nhưng hiệu quả của bổ sung vitamin C chưa được lượng giá chuyên biệt. Ngay cả bổ sung vitamin C dài hạn cũng không đi kèm với một nguy cơ ung thư vú thấp hơn (Zhang S, et al. 1999).

Những lănh vực chưa xác định rơ

Chỉ một số ít trong nhiều mối liên quan có thể có giữa riêng một vitamin và một bệnh lư đặc trưng được khảo sát trong những nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên. Chứng cứ cho rằng folic acid làm giảm mạnh nguy cơ bệnh mạch vành và ung thư kết tràng mặc dầu không dứt khoát. Ngay cả trong trường hợp mà lợi ích đă được chứng minh, như bổ sung folic acid làm giảm số trường hợp bị khuyết tật ống thần kinh, liều dùng tối ưu cũng chưa được xác định rơ. Nhu cầu chất dinh dưỡng có thể bị ảnh hưởng bởi những biến dị di truyền và đây là một chủ điểm của những nghiên cứu đang được thực hiện.

Kết luận và khuyến nghị

Nếu xét đến khả năng thât5 sự có lợi nhiều hơn có hại và lưu ư đến giá thành thấp, có thể kết luận rằng sử dụng mỗi ngày một viên đa sinh tố mà hàm lượng của các vitamin thành tố không vượt quá RDA (nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày được khuyến nghị của Hoa Kỳ) là điều hợp lư đối với đa số người lớn, kể cả người phụ nữ trong trường hợp minh họa nêu trên. Các dữ liệu có giá trị gợi ư cho thấy việc sử dụng folic acid, vitamin B6, vitamin B12 và vitamin D ở mức độ cao hơn nữa sẽ mang lại lợi ích cho nhiều người, và một viên đa sinh tố sẽ đảm bảo một lượng tiêu thụ thỏa đáng các vitamin khác vốn chỉ có chứng cứ lợi ích gián tiếp (Stephens NG, et al. 1996). Đa sinh tố đặc biệt quan trọng cho những phụ nữ có khả năng có thai; cho những người uống rượu thường xuyên mỗi ngày; cho những người lớn tuổi có chiều hướng hấp thu  vitamin B12 kém và thường thiếu hụt vitamin D; cho những người ăn chay vốn cần bổ sung vitamin B12 và cho những cư dân thành thị nghèo có thể không có khả năng đảm bảo đủ lượng tiêu thụ trái cây và rau quả.

Nhiều loại đa sinh tố cũng có chứa các khoáng chất thiết yếu, dù rằng hàm lượng của vài khoáng chất, như Calcium chẳng hạn, thấp hơn RDA nhiều. Ít có chứng cứ cho thấy bổ sung khoáng chất là có lợi, ngoại trừ việc cần cho thêm sắt ở một số phụ nữ tiền măn kinh.

Mặc dù người ta có thể đo nồng độ các chất dinh dưỡng trong máu để xác định ai là người được hưởng lợi nhất từ đa sinh tố, nhưng làm điều này quả tốn kém hơn nhiều lần so với việc chỉ đơn giản khuyến nghị rằng tất cả người lớn đền cần dùng một bổ sung vitamin (với phí tổn điều trị phổ biến từ 20 – 40USD/năm). Giáo dục hướng về dinh dưỡng hết sức quan trọng, nhưng để nâng nồng độ folic acid trong máu lên, th́ hiệu quả của nó kém xa việc uống bổ sung hoặc làm giàu thực phẩm với folic acid (Cuskelly GJ, et al. 1996: Krebs-Smith SM.1998). Tuy nhiên, một viên thuốc vitamin không thay thế được một lối sống hoặc khẩu phần ăn lành mạnh, bởi v́ thực phẩm c̣n có các thành phần bổ sung quan trọng khác như chất xơ và các acid béo thiết yếu. Đặc biệt là một bổ sung vitamin không thể coi như một khởi đầu bù trừ cho những nguy cơ nghiêm trọng đi kèm với hút thuốc lá, béo ph́ hoặc lối sống tĩnh tại. Giá của một bổ sung vitamin thấp – tương đương với ¼ giá của một suất khẩu phần trái cây hoặc rau quả cá nhân - đến nỗi không lư ǵ người ta phải dè sẻn ngân quỹ gia đ́nh bằng cách bỏ bớt những thực phẩm khác có lợi cho sức khỏe.

Như vậy, bổ sung vitamin E là điều hợp lư đối với đa số những người Mỹ trung niên và lớn tuổi mà ngày càng tăng nguy cơ bị bệnh mạch vành. Hướng lựa chọn trong trường hợp minh họa ở đầu bài là sẽ cho bổ sung vitamin E với liều 400 IU/ngày, rà soát lại hàng năm một khi có thêm những thông tin mới.

                                                            (Trích Thời sự y dược học bộ VII số 4- 8/2002)

BS. Nguyễn Hoàng Tuấn dịch theo Walter C. Willett:

What vitamin Should I Be Taking, Doctor?

N Engl J Med 2001 345:1819-1824