Tác dụng và tác hại của thuốc làm giảm cân
TS. DS. Nguyễn Hữu
Đức
Trường Đại học Y Dược TP. HCM
I. Vài ghi nhận về chứng béo
ph́
A.
Định nghĩa:
- Béo
ph́ là t́nh trạng có sự thừa lượng mỡ quá
mức, dẫn đến cơ thể gia tăng trên 25%
thể trọng.
- Thể
trọng hợp lư có thể tính theo BMI (Body Mass Index), là
chỉ số khối lượng cơ thể,
được tính theo công thức:
BMI = ![]()
P: thể trọng (kg)
C: chiều cao (m)
- Nữ: . có
thể trọng hợp lư khi BMI nằm trong khoảng 18 –
22,
. bị béo ph́ khi BMI > 27,5.
- Nam: BMI = 20 – 25, béo ph́ khi BMI > 30.
- Theo
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO):
·
Thừa cân (overweight)
khi: BMI = 25 – 29,9
·
Béo ph́ khi: BMI > 30.
- Theo
đề nghị của khối các nước ASEAN:
·
Thừa cân khi: BMI = 23 – 25
·
Béo ph́ độ 1 khi: BMI = 25 – 30
·
Béo ph́ độ 2
khi: BMI > 30.
- Béo
ph́ c̣n tính theo ṿng eo khi: nữ > 80cm, nam > 94 cm.
B.
Nguyên nhân đưa đến béo ph́, có thể kể:
-
Chế độ
ăn uống quá nhiều chất sinh ra năng
lượng như chất đường (đặc
biệt loại tiêu thụ nhanh), chất béo, dầu mỡ
nhưng thiếu sự vận động thích hợp
để tiêu bớt năng lượng đó đi,
năng lượng thừa được tích trữ
lại thành dạng mỡ gây béo ph́.
-
Rối loạn sự
biến dưỡng, sự hoạt động của
một số hệ enzyme trong cơ thể (như enzyme
ATLPL: adipose tissue lipoprotein lipase).
-
Rối loạn
hoạt động tuyến nội tiết như
tuyến giáp (nhược giáp), tuyến năo thùy, tuyến
sinh dục, tuyến thượng thận gây béo ph́ thứ
phát.
-
Do thuốc: như dùng
liều cao glucocorticoid trong thời gian dài.
-
Do gen: hiện nay
người ta phát hiện có một gen gọi là gen béo ph́
(obese gene) điều khiển sự tổng hợp leptin,
một hormon giúp chuyển hóa phân hủy mỡ. Nếu gen
này bị đột biến sẽ đưa đến
t́nh trạng thiếu hoặc kháng leptin gây béo ph́.
-
Chứng béo ph́
thường liên quan đến các bệnh lư hoặc
rối loạn như: đái tháo đường (tiểu
đường), tăng huyết áp, xơ vữa
động mạch, mệt mỏi, khó thở khi gắng
sức và có xu hướng bị hư các khớp nâng
đỡ ( khớp háng, đầu gối, cột
sống...).
II. Các thuốc làm giảm thể
trọng
A.
Không dùng thuốc:
-
Trước khi dùng thuốc, cần ghi nhận
phương cách chống béo ph́ chủ yếu là:
·
Điều chỉnh
chế độ ăn uống: giảm chất béo,
bột, đường, tăng thêm lượng rau
quả. Mỗi ngày ăn giảm 500Kcal để chỉ
thu nhận khoảng 1200Kcal/ngày, có thể làm giảm
thể trọng khoảng 0,5kg/tuần.
·
Hoạt động
thể lực: năng vận động, tập thể
dục, chơi thể thao với cường độ và
thời lượng tập thích đáng (ít nhất 60 phút
mỗi ngày).
B.
Thuốc làm giảm
thể trọng:
- Có
thể chia làm 3 loại và đều có tác dụng phụ:
1. Thuốc làm no
đầy ống tiêu hóa với chất độn:
- Tên thuốc: Coréine, Décorpa, Pseudophage.
- Chứa các chất như: Sterculia,
Methycellulose... Khi uống vào không hấp thu, chỉ hút
nước trương nở làm đầy bụng, do
đó làm giảm cảm giác đói, người dùng thuốc
không muốn ăn nữa. - Tác dụng phụ:
chướng bụng, đầy hơi.
- Chống chỉ định: chứng
hẹp đường tiêu hóa, chứng to kết tràng
2. Thuốc làm gia
tăng biến dưỡng:
- Lipolysin F chứa nội tiết tố
tuyến giáp thyroxin nhằm gia tăng biến dưỡng
ở tế bào. Thuốc chỉ công hiệu trong
trường hợp béo ph́ do thiếu thyroxin và sử
dụng thật cẩn thận do có nguy cơ gây ức
chế chức năng tuyến giáp, hại tim (do tăng
nhịp tim).
- Có khi
thuốc lợi tiểu được dùng trong
trường hợp có sự tồn tích nước,
phải dùng thận trọng v́ có thể gây mất cân
bằng nước và chất điện giải trầm
trọng. Đặc biệt, thuốc lợi tiểu làm
tăng đường huyết sẽ làm tăng nguy cơ
bị đái tháo đường hoặc nếu có bệnh
sẵn sẽ làm bệnh xấu đi.
-
Hiện nay, thuốc chứa L-carnitin (một dẫn
chất được tạo thành từ một acid amin có
tên lysin) được cho là làm giảm cân nhưng thực
chất đây chỉ là chất phụ trợ chuyển
hóa chất béo giúp oxy hóa acid béo trong tế bào để
tạo năng lượng.
3. Thuốc gây
chán ăn:
-
Hiện nay, thuốc đang được sử dụng
và gây ra nhiều tác dụng không tốt.
-
Đó là các thuốc chứa Amphetamin hoặc các dẫn
chất tương tự Amphetamin: Benzedrine, Phenamin, Mirapront
N, Isoméride, Didrex, Anorex, Tepanil, Adifax, Pondéral...
-
Thuốc tác dụng trên hệ thần kinh trung ương
(vùng dưới đồi: hypothalamus) gây kích thích (làm cho khó
ngủ), làm giảm cảm giác đói.
-
Người dùng thuốc ăn mất ngon và không muốn
ăn, do ăn không được và có thể ngủ không
được nên sẽ gầy ốm.
-
Thuốc gây trạng thái kích thích và làm cho chán ăn v́ làm cho
hệ thần kinh sinh ra chất sinh học dẫn
truyền thần kinh nhiều hơn, như làm tăng
noradrenalin (thuốc: phentermin), serotonin (thuốc: fluoxetin,
dexfenfluramin).
- Thuốc
loại này có thể nguy hiểm v́ gây nghiện (người nghiện ma túy
thường kết hợp dùng thêm thuốc kích thích này
cũng như người nghiện thuốc gây chán ăn
sẽ dẫn đến sử dụng luôn ma túy) gây tâm trạng chán nản khi
ngưng dùng thuốc (có xu hướng tự tử).
-
Chống chỉ định: bệnh tim mạch, cao
huyết áp, glaucome khép góc.
-
Thuốc được bác sĩ chỉ định trong
thời gian ngắn (không dùng thuốc quá 4 tuần)
đối với người bị bệnh béo ph́
thuộc loại trung b́nh hoặc nặng và khi chế
độ ăn kiêng áp dụng không có hiệu quả.
Việc sử dụng thuốc được theo dơi
kỹ tại bệnh viện.
-
Một loại thuốc cũng có tác dụng kích thích gây
chán ăn là thuốc thuộc nhóm cường giao cảm,
gồm có: phenylpro panolamin (viết tắt PPA), ephedrin,
pseudoephedrin. Hiện nay nhiều nước đă cấm
dùng PPA làm thuốc giảm cân do thuốc này có liên quan
đến việc gây tai biến mạch máu năo (chảy máu
năo và màng năo). Ở một số người dùng PPA làm
thuốc giảm cân gần đây ở Mỹ đă
xảy ra các tai biến gây chết người do việc
dùng chế phẩm giảm cân chứa ma hoàng (vị
thuốc đông y có tên ephedra chứa ephedrin).
C.
Một số thuốc bị cấm lưu hành:
-
Năm 1995, ở Pháp: Isoméride và Pondéral bị cấm v́ gây
tăng áp ở phổi và làm tổn thương van tim.
-
Năm 1999, Cộng đồng Châu Âu: cấm Anorex, Prefamone,
Tenuate Dospan, Moderatan, Fempoporex, Dinitel, Lincital do gây nhiều tác
dụng phụ lại tỏ ra không hữu hiệu trong
trị liệu béo ph́.
-
Ở Việt Nam, ngày 24/9/1997, Cục Quản lư Dược
thông báo (số 28/QLD-QĐ) rút số đăng kư biệt
dược gây chán ăn Adifax (Fenfluramine) và Pondéral
(Dexfenfluramine) do nhà sản xuất báo cáo thuốc gây một
số biến chứng về tim mạch.
III. Thuốc giảm thể trọng mới
A.
Orlistat (biệt
dược Xenical):
-
Đây là thuốc không hấp thu, không tác động trên
hệ thần kinh trung ương mà chỉ ức chế
hoạt tính của lipase ở ruột, v́ vậy sẽ làm
giảm sự hấp thu chất béo (mỡ) từ ruột
vào máu. Ta biết rằng, dịch tụy có chứa lipase,
lipase hoạt động sẽ thủy phân chất béo thành
các chất đơn giản hơn và các chất
đơn giản này mới được hấp thu qua
niêm mạc ruột để vào máu và tái tạo lại
chất béo. Khi dùng Orlistat, Orlistat kết dính vào lipase và làm
cho lipase hết hoạt động. Orlistat chỉ làm
giảm sự hấp thu chất béo vào khoảng 30% so
với chất béo ăn hàng ngày. V́ vậy, đây
được xem là thuốc thuộc nhóm giảm tích
lũy năng lượng, c̣n kết hợp với
chế độ ăn ít calo.
- Tác
dụng phụ: đầy bụng, rối loạn tiêu hóa
do rối loạn hấp thu mỡ.
- Khi
dùng thuốc, cần lưu ư: rối loạn sự hấp
thu các vitamin tan trong dầu (vitamin A, D, E..., có khi cần
phải bổ sung), giảm hấp thu thuốc ngừa thai
nếu uống chung.
B.
Sibutramin (biệt
dược Reductil):
- Gây
chán ăn và tăng sinh nhiệt theo cơ chế thần
kinh, bằng cách ức chế sự tái hấp thu serotonin
và noradrenalin ở các đầu dây thần kinh. Tuy nhiên,
thuốc không gây nghiện (do không gây khoái cảm giống
amphetamin), không gây tăng áp
động mạch phổi và hại van tim
(được ghi nhận cần theo dơi thêm).
- Tác
dụng phụ: tăng nhẹ huyết áp và mạch,
nhức đầu, khô miệng, táo bón, mất ngủ.
C. Một số
thuốc khác:
- Có
một số thuốc mới đang nghiên cứu là
thuốc thuộc hệ thống hormon peptid như: cholecysto
kinin, amylin, leptin... có tác dụng làm giảm sự truyền
tín hiệu về cảm giác đói để không thấy
đói.
-
Ở Việt Nam, cần lưu ư về thuốc Đông y
làm giảm cân bán trôi nổi. Có thuốc chứa
dược liệu gây nhuận trường, lợi
tiểu gây tác dụng phụ trầm trọng cho
người sử dụng. Có cả thuốc là giả
mạo không rơ nguồn gốc, có thể gây độc
chết người.