Phát hiện - Điều trị bệnh lao và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

 

BS. Nguyễn Hồng Đức - BV. Phạm Ngọc Thạch


      Ông bà xưa có câu: "Phong Lao Cổ Lại, tứ chứng nan y" để nói lên sự nguy hiểm của bệnh lao. Mọi người cũng biết rằng lao phổi là bệnh rất lây và là bệnh phổ biến. Khi đi khám bệnh, chụp phổi hay rọi kiếng, bệnh nhân bị lao thường nghe Bác sĩ nói là phổi bị nám v́ thế người ta thường gọi lao phổi là nám phổi. Lao là cái tên dễ làm người ta sợ hăi và khi nói đến bệnh của phổi th́ người ta thường dễ liên tưởng ngay đến bệnh lao.

Tuy nhiên phổi có thể bị rất nhiều loại bệnh có nguyên nhân khác nhau như do vi trùng, do độc hại của môi trường, do ung bướu. Bài nói chuyện này đề cập đến hai bệnh rất thường gặp, hiện là những vấn đề của y tế công cộng, nghĩa là nhiều người mắc và gây nguy hiểm tốn kém cho cả cá nhân lẫn xă hội. Những bệnh này có thể trị khỏi hoặc pḥng tránh được.


BỆNH LAO

1. Nguyên nhân nào gây bệnh lao?

- Lao là một bệnh do vi trùng, lây chủ yếu bằng đường hô hấp, nghĩa là do hít phải vi trùng lao vào phổi. Bệnh truyền từ người này sang người khác. Vi trùng gây bệnh là trực khuẩn lao có tên khoa học là Mycobacterium  tuberculosis. Bệnh lao không có tính di truyền.

- Trực khuẩn lao không có trong đất; kho chứa vi trùng lao chủ yếu là những bệnh nhân mắc lao phổi. Những bệnh nhân này thường có những "hang lao", tức là những lỗ lủng trong phổi, có chứa rất nhiều vi trùng lao. Một hang lao có đường kính 2 cm chứa khoảng 100 triệu vi trùng.

2. Bệnh lao lây như thế nào?

- Khi bệnh nhân lao phổi nói, nhất là khi ho hoặc hắt hơi, họ sẽ bắn ra chung quanh muôn ngàn những hạt đàm nhỏ, trong các hạt đều có chứa một số vi trùng lao: đó là các hạt nhỏ gây nhiễm. Số lượng các hạt nhỏ bắn ra chung quanh bệnh nhân rất lớn khi bệnh nhân ho (3500) hoặc hắt hơi (1.000.000). Khi tiếp xúc với không khí, bề mặt những hạt nhỏ này sẽ khô dần đi và trở thành những hạt rất nhẹ luôn chứa vi trùng lao c̣n sống lơ lửng trong không khí một thời gian. Ở nơi tù hăm, những hạt này c̣n lơ lửng trong không khí lâu hơn nữa và các vi trùng có thể sống nhiều giờ trong bóng tối.

- Ánh sáng trực tiếp của mặt trời tiêu hủy vi trùng lao nhanh chóng. Do đó làm thông thoáng và phơi sáng nơi bệnh nhân lao sống có thể làm giảm nguy cơ lây nhiễm cho những người sống tiếp xúc với họ.

- Như vậy những người sống gần hay ngủ gần bệnh nhân sẽ có nguy cơ hít phải những hạt nhỏ gây nhiễm. Nguy cơ lây nhiễm càng cao khi sự tiếp xúc càng mật thiết v́ liên quan đến mật độ vi trùng trong không khí. Như vậy hai yếu tố chủ yếu xác định nguy cơ lây truyền vi trùng lao cho người lành là: nồng độ những hạt nhỏ gây nhiễm lơ lửng trong không khí, và thời gian mà người đó hít thở không khí này. Ta dễ dàng hiểu rằng một tỷ lệ lớn trẻ em sống gần nguồn lây sẽ bị nhiễm lao. Con nhỏ của một bà mẹ đang ho ra vi trùng có nguy cơ bị lây nhiều nhất.

- Bệnh nhân có vi trùng dương tính qua soi trực tiếp (nh́n thấy được bằng kính hiển vi) th́ lây nhiều hơn v́ họ khạc ra nhiều vi trùng hơn so với những người có vi trùng chỉ phát hiện bằng nuôi cấy.

 

3. “Nhiễm lao” khác với “bệnh lao” ra sao?

Khi vi trùng lao xâm nhập vào cơ thể ta gọi là nhiễm lao. Ở những nơi có t́nh h́nh mắc lao cao, hầu hết những người trẻ tuổi đều đă bị nhiễm lao nhưng chỉ một tỷ lệ nhỏ trong số đó mắc bệnh lao. Khả năng lao nhiễm trở thành lao bệnh phụ thuộc vào hai yếu tố:

- Mức độ nhiễm, nghĩa là số lượng vi khuẩn hít phải, nhiều hay ít.

- Sức đề kháng của cơ thể.

Sau khi xâm nhập vào phổi, vi trùng lao sẽ sinh sôi nẩy nở và theo máu, bạch huyết phát tán đi khắp cơ thể. Thường th́ hệ thống miễn dịch của cơ thể ta sẽ ngăn chận và tiêu diệt chúng, ta chỉ là người nhiễm lao.Trong một số trường hợp, nhiễm lao có thể phát triển nhanh chóng thành bệnh lao. Ở một số trường hợp khác, vi khuẩn sẽ nằm im trong trạng thái ngủ do bị hệ thống bảo vệ của cơ thể ức chế. Khi sức bảo vệ của cơ thể bị suy yếu, thí dụ do suy dinh dưỡng, nhiễm HIV, do tuổi già, vi khuẩn lao ngủ có thể sẽ sinh sản và gây ra bệnh lao. Lúc này người nhiễm lao trở thành người bệnh lao.

4. Triệu chứng của bệnh lao là ǵ?

Vi trùng lao có thể gây bệnh ở bất kỳ bộ phận nào của cơ thể: lao phổi, lao xương, lao da, lao thận, lao màng năo, lao hạch, v.v. Lao phổi là thường gặp nhất, lao ngoài phổi ít gặp hơn. Chỉ có lao phổi mới lây.

Người bị lao phổi thường có những triệu chứng sau đây:

- Ho khạc kéo dài trên 3 tuần

- Gầy sút, kém ăn, mệt mỏi

- Sốt nhẹ về chiều

- Ra mồ hôi đêm

- Đau ngực, khó thở

- Ho ra máu

5. Ai dễ mắc lao?

- Người sống chung với bệnh nhân lao phổi có vi trùng trong đàm, đặc biệt là trẻ em và thanh niên

- Người nhiễm HIV/AIDS

- Người suy dinh dưỡng, đái tháo đường, người nghiện, người dùng các thuốc giảm miễn dịch kéo dài: corticoid

- Người vô gia cư, quản giáo, can phạm sống trong trại giam.

6. Làm ǵ khi nghi ngờ bị mắc lao?

Khi có những triệu chứng như nêu trên hăy nghĩ đến bệnh lao, và hăy đến ngay các Tổ Lao quận huyện, các cơ sở y-tế khám bệnh, để được bác sĩ chuyên khoa lao khám bệnh, chụp h́nh phổi và quan trọng nhất là t́m vi trùng lao trong đàm. Tại đó, bệnh nhân sẽ được thử 3 mẫu đàm: mẫu 1 lấy tại chỗ lần khám 1, mẫu 2 lấy tại nhà và mẫu 3 lấy tại chỗ lần khám 2 vào ngày hôm sau. Bệnh nhân cần chú ư khạc đàm sâu đúng kỹ thuật, không lấy nước bọt hoặc nước mũi. Nếu t́m thấy vi trùng lao trong đàm, người có những triệu chứng trên đă mắc lao phổi. Nếu không t́m thấy vi trùng lao, Bác sĩ chuyên khoa lao sẽ hướng dẫn cho bệnh nhân những điều cần thiết tiếp theo.
7. Người bệnh lao sẽ được điều trị như thế nào?

Sau khi được chẩn đoán là mắc lao, bệnh nhân sẽ được thu dung điều trị trong khuôn khổ Chương tŕnh Chống lao Quốc gia (CTCLQG) tại các Tổ lao Quận Huyện nơi bệnh nhân cư trú. Bệnh nhân được điều trị theo phương pháp DOTS. Tất cả thuốc chống lao của CTCLQG được cấp miễn phí cho bệnh nhân.

DOTS là ǵ?

Từ năm 1994, Tổ chức Y-tế thế giới đă khuyến cáo một chiến lược chống lao có tên gọi là DOTS (Directly Observed Treatment, Short - course) có nghĩa là "Điều trị hóa trị liệu ngắn ngày có kiểm soát trực tiếp". Chiến lược của CTCLQG hiện nay là áp dụng khuyến cáo này.

Mục đích của DOTS là:

- Điều trị khỏi cho bệnh nhân

- Rút ngắn thời gian lan truyền của bệnh

- Tránh kháng thuốc

Nội dung:

- Trực tiếp giám sát việc dùng từng liều thuốc của bệnh nhân, đảm bảo bệnh nhân dùng đúng loại thuốc, đúng liều, đều đặn và đủ thời gian. Việc giám sát sẽ được thực hiện tại các Tổ Lao Quận Huyện, pḥng khám đa khoa khu vực, trạm y tế phường xă. Thân nhân bệnh nhân cũng có trách nhiệm tham gia nhắc nhở bệnh nhân.

- Giai đoạn tấn công: ít nhất 4 loại thuốc chính S, H, R, Z với thời gian 2-3 tháng

- Giai đoạn duy tŕ: ít nhất 2 loại thuốc, thời gian 4-6 tháng.

8. Bệnh lao phổi nếu không được phát hiện điều trị sớm có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm ǵ?

Bệnh lao phổi có nhiều biến chứng. Biến chứng có thể xuất hiện như bệnh cảnh lâm sàng mở đầu, nghĩa là có biến chứng rồi mới phát hiện ra bệnh, hoặc xảy ra trong quá tŕnh tiến triển của bệnh. Các biến chứng hay gặp là:

1. Ho ra máu: có thể ít, vừa hay nhiều. Ho ra máu sét đánh, do bệnh lao làm hoại tử thành của một động mạch, là biến chứng gây tử vong trong ṿng vài phút.

2. Tràn khí màng phổi: do vỡ một hang lao vào khoang màng phổi, là biến chứng nặng. Vi trùng lao từ hang lao nhiễm vào màng phổi và gây ra tràn mủ - tràn khí màng phổi. Điều trị khó khăn, vừa điều trị lao, vừa phải đặt ống dẫn lưu màng phổi.

3. Tràn dịch màng phổi: do tiếp cận với một ổ lao phổi đang tiến triển
Biến chứng có thể xảy ra sau khi bệnh lao đă được chữa khỏi tạo thành các di chứng của bệnh lao phổi:

4. Dăn phế quản: có triệu chứng ho đàm và ho ra máu. Không nên lầm lẫn là bệnh tái phát. Chỉ khi t́m thấy vi trùng lao mới là tái phát.

5. Suy hô hấp măn: khi có di chứng lan rộng làm phổi mất chức năng.

6. Tràn khí màng phổi: do vỡ một bóng khí. Tràn khí này không đi kèm theo nhiễm trùng màng phổi.

7. U nấm phổi: do vi nấm Aspergillus fumigatus sinh sôi trong một hang lao cũ trong phổi. Điều trị bằng phẫu thuật.

9. Làm thế nào để trị dứt bệnh lao?

- Lao là bệnh có thể điều trị khỏi. Bệnh nhân phải được bắt đầu điều trị càng sớm càng tốt ngay sau khi được chẩn đoán, đặc biệt là những người lao phổi M(+), tức là người có vi trùng nh́n thấy trực tiếp trong đàm. Tuy nhiên, điều trị lao đ̣i hỏi thời gian dài, bệnh nhân cần phải hiểu và tuân theo những nguyên tắc điều trị: dùng thuốc đúng liều, đều đặn, đủ thời gian.

- Tại sao?

V́ trong cơ thể người mắc bệnh lao có nhiều dân số trực khuẩn lao khác nhau:

·       Nhóm trực khuẩn đang hoạt động và sinh sản: loại này có nhiều trong các hang lao, tức là các lỗ lủng trong phổi theo cách nói thông thường. Nhóm này dễ bị thuốc kháng lao tiêu diệt.

·       Nhóm sinh sản chậm nằm trong các đại thực bào, khó bị tiêu diệt hơn.

·       Nhóm ngủ yên, sinh sản cực kỳ chậm, nằm rải rác trong các mô cơ thể. Các vi khuẩn trong nhóm này không sinh sản nhưng vẫn sống. Khi sức đề kháng của cơ thể suy yếu đi chúng sẽ hoạt động trở lại. Nhóm này rất khó bị tiêu diệt.

Mặt khác vi khuẩn lao có đặc điểm là có một số vi khuẩn tự nhiên có khả năng chống lại được thuốc kháng lao, gọi là kháng thuốc (lờn thuốc). Số vi khuẩn càng đông càng có khả năng có nhiều vi khuẩn kháng thuốc.

- Do đó muốn trị dứt bệnh lao cần phải:

·        Tiêu diệt được tất cả các dân số vi trùng lao

·        Không cho có hiện tượng kháng thuốc xảy ra

- V́ thế, việc điều trị lao được dựa trên các nguyên tắc sau:

·        Phối hợp cùng lúc nhiều thuốc chống lao để tránh xuất hiện các vi khuẩn kháng thuốc. Trong giai đoạn tấn công phải phối hợp 3-4 thứ thuốc, giai đoạn duy tŕ phối hợp 2-3 thứ thuốc.

·        Dùng thuốc đúng liều: liều thấp sẽ không hiệu quả dễ sinh ra vi trùng kháng thuốc, dùng liều cao dễ gây tai biến

·        Dùng thuốc đều đặn: các thuốc kháng lao phải tiêm và uống cùng lúc và cố định giờ trong ngày để thuốc có thể đạt đỉnh cao trong máu. Thuốc phải uống xa bữa ăn để hấp thụ vào máu tối đa.

·        Dùng thuốc đủ thời gian để tránh tái phát: hiện nay điều trị lao gồm hai giai đoạn:

      Tấn công: kéo dài từ 2-3 tháng, mục đích là làm giảm nhanh số lượng vi trùng kể cả những vi trùng đang ngủ, để ngăn chận đột biến kháng thuốc

      Duy tŕ: kéo dài 4-6 tháng, mục đích là tiêu diệt toàn bộ các vi trùng c̣n sót lại để tránh tái phát.

Thực hiện đúng những nguyên tắc trên, bệnh lao sẽ được trị dứt dễ dàng. Không giữ đúng nguyên tắc, uống thuốc không đúng liều, không đều, không đủ thời gian, bệnh không thể chữa khỏi. Bệnh nhân có thể tử vong, bệnh trở thành mạn tính và lây sang cho nhiều người khác và khi đó đúng là một chứng nan y!

 

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH:

1. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là ǵ?

- Là một loại bệnh của phổi trong đó đặc điểm chủ yếu là t́nh trạng tắc nghẽn mạn tính của hệ thống phế quản đối với sự di chuyển của không khí vào và ra khỏi phổi bị khó khăn, hạn chế so với b́nh thường.

- Phổi thật sự gồm hai phần chính:

·        Hệ thống phế quản: tức là những đường ống dẫn không khí vào và ra khỏi phổi. Hệ thống ống này bắt đầu từ khí quản, chia hai nhánh lớn vào hai phổi rồi sau đó cứ chia hai thành các nhánh ngày càng nhỏ dần cho đến các túi phế nang chứa không khí.

·        Phế nang: là những túi nhỏ chứa không khí, trên mặt có nhiều mạch máu nhỏ li ti, là nơi oxy sẽ từ không khí vào máu và CO2 từ máu chạy ra không khí.

- Trong BPTNMT cả hai cấu trúc này đều bị hỏng: các phế quản th́ bị teo hẹp lại, không khí trong phổi không thoát ra ngoài được; các phế nang bị dăn và vỡ, mạch máu bị tắc, nên không có sự trao đổi oxy, CO2 giữa máu và không khí được nữa.

- Hậu quả là phổi của người bị BPTNMT không thể làm được nhiệm vụ chủ yếu là lấy Oxy vào và thải CO2 ra khỏi máu. Ta gọi đó là suy hô hấp.

2. Nguyên nhân nào gây ra bệnh?

- Do phổi phải tiếp xúc lâu ngày với những chất có hại, trong đó chất độc chủ yếu là khói thuốc lá. Ngoài ra c̣n có các yếu tố khác như ô nhiễm không khí, nhiễm trùng hô hấp… nhưng chỉ là làm tăng tác hại của thuốc lá mà thôi.

- Đây là loại bệnh phổi có thể pḥng ngừa hữu hiệu bằng cách không hút thuốc lá.
 Thuốc lá gây bệnh như thế nào?

·       Khói thuốc lá gây bệnh bằng nhiều cách:

        Trực tiếp bằng sức nóng: nhiệt độ đốt cháy thuốc lá là 850C, khói thuốc từ ống pipe nóng hơn thuốc điếu. Thuốc lá gây phỏng mạn tính, làm mất vị giác và tán trợ ung thư.

        Tác dụng trực tiếp trên đường hô hấp: do tiếp xúc trực tiếp của khói thuốc trên niêm mạc hô hấp, do lắng tụ các chất lơ lửng trong khói thuốc.

        Do các độc chất thấm vào máu: qua màng phế nang mao mạch, đi tới khắp các cơ quan.

·       Mức tiêu thụ thuốc lá được tính bằng số:

        1 điếu thuốc nặng 1 gam

        Hút một gói một ngày trong một năm tương đương mức tiêu thụ 1 gói - năm (7300 điếu hay 7,3 kg thuốc lá).

·       Thành phần của khói thuốc lá:

Các thành phần chính trong số hơn 3000 chất đă phân lập được:

         Hắc ín: có tính gây ung thư và kích thích phế quản.

         Nicotine: thấm qua máu rất nhanh, tác dụng trên tim mạch và thần kinh, là yếu tố chính làm cho người hút bị ghiền.

         Khí CO (monoxyd carbon): sinh ra trong qua tŕnh cháy thiếu oxy, thấm vào máu rất nhanh, có ái lực với Hb gấp 20 lần so với oxy. Khí này bám vào hồng cầu làm hồng cầu không thể lấy oxy được nữa.

         Ngoài ra c̣n có các aldehyd, acrolein, phenol đều là chất có tính kích thích.

3. Triệu chứng và biến chứng của bệnh là ǵ?

- Sau nhiều năm hút thuốc, phế quản của người hút bắt đầu bị viêm và hỏng dần đi. Thoạt đầu, chức năng thanh thải các chất dơ lẫn trong không khí bị mất, đàm nhớt thay v́ được đưa lên cổ họng để khạc ra hoặc nuốt xuống th́ cứ ứ đọng lại trong phổi. Do đó người hút thường khạc đàm vào buổi sáng. Người hút thường trấn an ḿnh bằng cách nghĩ và nói "ho do hút thuốc" mà không hề biết rằng đó là triệu chứng khởi đầu của một bệnh nan y chết người. Thật ra đó là triệu chứng của viêm phế quản mạn do hút thuốc, cho biết các phế quản lớn trong phổi đă bị khói thuốc làm hỏng.

- T́nh trạng cứ thế trong vài năm, cho đến bệnh nhân thấy khó thở, hụt hơi khi làm những việc thường ngày th́ lúc đó bệnh đă ở giai đoạn suy hô hấp. Lúc đó các phế quản nhỏ và cả các phế nang đă bị tổn thương, phổi đă bị tắc nghẽn. Khó thở là triệu chứng đánh dấu bước ngoặt cho biết bệnh không c̣n hồi phục được nữa.

- Suy hô hấp nặng dần, khó thở ngày càng tăng, ngay cả khi làm những việc nhẹ như đánh răng, thay quần áo, và ngay cả khi ăn uống. Bệnh nhân đă bị tàn phế hô hấp. Những biến chứng dồn dập xảy ra, bệnh nhân thường xuyên bị những đợt viêm phế quản nặng, rơi vào suy hô hấp cấp và tử vong. Nếu bệnh có đủ thời giờ tiến triển, bệnh nhân bị biến chứng tâm phế mạn, nghĩa là suy tim do suy phổi. Kết cuộc vẫn là tử vong trong một đợt suy hô hấp cấp.

4. Làm thế nào biết ḿnh có bị bệnh không?

- Cần phát hiện sớm để điều trị kịp thời.

- Muốn chẩn đoán chính xác phải đo chức năng hô hấp để phát hiện được t́nh trạng tắc nghẽn sớm.

- Bất kỳ người nghiện thuốc lá nào cũng cần đo chức năng hô hấp.

- Người ho kéo dài, khạc đàm mạn tính, khó thở cần phải đo chức năng hô hấp.

- Chụp phổi lúc bệnh c̣n chưa nặng sẽ "không thấy ǵ"!

5. Điều trị bệnh như thế nào?

- Nguyên nhân gây bệnh là khói thuốc lá. Việc đầu tiên và quan trọng nhất là ngưng hút thuốc lá. Việc này luôn có lợi dù bệnh đang ở bất kỳ giai đoạn nào. Muốn bỏ thuốc lá cách tốt nhất là bỏ ngay tức th́ và bỏ hẳn, không bỏ dần v́ có nguy cơ làm hút tăng thêm. Muốn bỏ ngay th́ chỉ có cách là bệnh nhân hiểu, sợ và "bỏ chạy".

- Thuốc dăn phế quản, đặc biệt là các loại thuốc hít vào phổi, có thể làm bớt khó thở. Thuốc phải dùng lâu dài.

- Kháng sinh khi có nhiễm trùng hô hấp.

- Khi bệnh nhân đă bị suy hô hấp nặng, oxy trong máu xuống thấp đến mức nguy hiểm th́ phải thở oxy liên tục tại nhà.

- Trong cơn suy hô hấp cấp, nguy cơ tử vong rất cao, phải điều trị trong bệnh viện.
BV. Phạm Ngọc Thạch là bệnh viện đầu tiên tại TP. HCM và trong cả nước có đơn vị khám và điều trị riêng cho bệnh nhân bị BPTNMT. BV. Phạm Ngọc Thạch c̣n có chương tŕnh điều trị bằng oxy tại nhà cho bệnh nhân suy hô hấp mạn nặng với các máy tạo oxy cũng như các máy giúp thở cho các bệnh nhân có chỉ định. Toàn bộ máy móc thiết bị đều của Pháp. Có đội ngũ kỹ sư chuyên nghiệp bảo tŕ máy móc định kỳ tại nhà. Bệnh nhân có nhu cầu khám chữa bệnh xin liên hệ:
BV. Phạm Ngọc Thạch - 120 Hùng Vương, Quận 5, TP. Hồ Chí Minh.