Bệnh Loăng xương - điều trị và pḥng ngừa

{

TS. BS   Anh Thư

Khoa Nội Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Chợ Rẫy

 

 

1. BỆNH LOĂNG XƯƠNG LÀ G̀?

Loăng xương (Osteoporosis), c̣n được gọi Xốp xương hay Thưa xương, là một bệnh lư ảnh hưởng tới khối lượng và chất lượng của hệ thống xương khiến cho sức chống đỡ và chịu lực của xương giảm đi, xương sẽ trở nên mỏng mảnh, dễ gẫy, dễ lún và dễ xẹp, đặc biệt ở các vị trí chiụ lực của cơ thể như: cột sống, cổ xương đùi, đầu dưới xương quay...

Nói đơn giản hơn loăng xương là t́nh trạng xương mỏng mảnh và yếu đến mức rất dễ gẫy khi bị chấn thương dù rất nhẹ, thậm chí có thể găy tự nhiên không do chấn thương.

 

2. TẠI SAO LOĂNG XƯƠNG LẠI NGÀY CÀNG GIA TĂNG?

Một trong những thành tựu rất lớn của Y học nói riêng và của Khoa học Kỹ thuật nói chung là nâng cao tuổi thọ cho con người. Với sự gia tăng tuổi thọ, số người có tuổi (trên 65 tuổi) ngày càng cao và chiếm một vị trí rất đáng kể trong dân số. Hiện nay số người có tuổi chiếm trên 12% dân số thế giới, dự tính vào năm 2020, con số này sẽ là 17% (chiếm 40% chi phí y tế của toàn xă hội).

Từ 10 năm nay, bệnh Loăng xương đă được coi là một vần đề sức khoẻ mang tính toàn cầu v́ ảnh hưởng nhiều tới sức khỏe người có tuổi (đặc biệt là phụ nữ) và đ̣i hỏi chi phí rất lớn về Y tế của xă hội.  Loăng xương đă được coi là một trong 4 vần đề lớn được đặc biệt quan tâm trong thập niên 2000 – 2010, thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, mà Liên hiệp quốc và Tổ chức Y tế Thế giới đă đề xướng là Thập niên Xương và Khớp (The Bone and Joint Decade).

Hiện nay, Loăng xương đang được coi là một bệnh dịch âm thầm, ngày càng  gia tăng, đang có xu hướng lan rộng khắp thế giới, đặc biệt ở các nước Châu Á.

- Khoảng 50 % phụ nữ trên 50 tuổi bị Loăng xương.

- Trên 40 % phụ nữ trên 70 tuổi bị gẫy xương do Loăng xương.

 

3. T̀NH H̀NH LOĂNG XƯƠNG Ở NƯỚC TA NHƯ THẾ NÀO?

Cho đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu dịch tễ đầy đủ nào về bệnh Loăng xương cũng như mức độ ảnh hưởng của bệnh lên sức khỏe người bệnh và chi phí y tế của căn bệnh này ở nước ta. Đa số bệnh nhân Loăng xương chưa được chẩn đoán, chưa được điều trị đầy đủ và chưa được theo dơi lâu dài. Chẩn đoán Loăng xương đa số muộn, vào lúc đă có biến chứng: đau kéo dài do chèn ép rễ thần kinh, gẫy lún đốt sống, gẫy xương… Việc điều trị hầu hết mới chỉ dựa vào Calci, Vitamine D và chất chuyển hóa của vitamind D (Calcitriol). Các thuốc điều trị tích cực khác c̣n rất hạn chế.

Một số nghiên cứu tại TP Hồ Chí Minh đă cho thấy:

- Khẩu phần ăn hàng ngày của chúng ta rất thiếu calci, việc sử dụng sữa và các chế phẩm của sữa trong cộng đồng c̣n rất ít và hầu hết đều tập trung   TP Hồ Chí Minh và Hà Nội.

- Khối lượng khoáng chất đỉnh của xương ở người trưởng thành khá thấp, tỷ lệ Thiếu xương và Loăng xương khá cao trong cộng đồng.

- Chưa có chiến lược pḥng ngừa bệnh lâu dài và đầy đủ, mọi người chưa chủ động phát hiện bệnh sớm.

- Đa số nhân dân lao động không có khả năng sử dụng thuốc điều trị lâu dài khi có bệnh, chưa có giải pháp để đương đầu với những khó khăn về kinh tế của người bệnh.

 

4. CHI PHÍ CHO ĐIỀU TRỊ LOĂNG XƯƠNG NHƯ THẾ NÀO?

Hàng năm, chi phí cho điều trị Loăng xương ở các nước phát triển không ngừng tăng lên. Riêng ở Mỹ, một đất nước phát triển vào loại hàng đầu thế giới, chi phí cho bệnh Loăng xương luôn là một con số rất đáng quan tâm. Chỉ trong ṿng 15 năm, chi phí này đă tăng 4 gấp lần (5,1 tỷ USD năm 1986 và 22 tỷ USD năm 2001).

 

TỈ USD

 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                        Chi phí cho bệnh Loăng xương tại Mỹ

 

Chi phí cho bệnh Loăng xương tại Mỹ

 

Theo thông báo của Liên đoàn chống bệnh Loăng xương Thế giới (IOF), hiện nay chi phí cho bệnh Loăng xương tương đương với chi phí cho bệnh Tiểu đường và lớn hơn chi phí cho cả hai bệnh ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ cộng lại (ung thư vú và ung thư cổ tử cung).

 

5. TẠI SAO CHI PHÍ CHO BỆNH LOĂNG XƯƠNG LẠI CAO NHƯ VẬY?

Chi phí lớn nhất cho bệnh loăng xương là để điều trị biến chứng găy xương, đặc biệt là găy cổ xương đùi.

Năm 1990, toàn thế giới có khoảng 1,7 triệu trường hợp gẫy cổ xương đùi do loăng xương, th́ 31 % số này thuộc các nước châu Á. Với tốc độ lan tràn được ví như dịch hiện nay, dự tính năm 2050, toàn thế giới sẽ có tới 6,3 triệu trường hợp găy cổ xương đùi do loăng xương, và 51 % số này thuộc các nước châu Á.

Găy xương do Loăng xương đang thực sự trở thành một gánh nặng cho chương tŕnh chăm sóc sức khỏe của mỗi quốc gia

Đây là một thách thức lớn cho sức khỏe cộng đồng, đặc biệt ở các nước châu Á, nơi mà đa phần là các nước đang phát triển, đông dân và c̣n có nhiều khó khăn về kinh tế, trong đó có nước ta.

Găy xương là một biến chứng nặng của Loăng xương, được ví như  Tai biến mạch vành (Nhồi máu cơ tim) trong bệnh Cơ tim thiếu máu cục bộ v́ hậu quả của chúng không thua kém ǵ nhau, mặc dù trên thực tế người ta vẫn nghĩ là tai biến mạch vành nặng nề hơn nhiều.

Các chi phí y tế để điều trị biến chứng găy xương do loăng xương gồm:

1.      Chi phí nằm bệnh viện để điều trị gẫy xương: cố định ngoài, kết hợp xương, thay chỏm xương đùi…

2.      Chi phí điều trị các biến chứng do nằm lâu ở người có tuổi bị găy xương (v́ phải bất động chỗ xương găy, v́ không vận động được) như: viêm phổi, viêm đường tiết niệu, loét tư thế, loăng xương tiếp tục…

3.      Chi phí cho các thuốc điều trị tích cực bệnh Loăng xương (Bisphosphonates và/hoặc Calcitonine và/hoặc hormon hay các thuốc giống hormon), vitamin D, thuốc tăng đồng hóa… trong suốt quăng đời c̣n lại của người bệnh để tránh tái găy xương.

4.      Hậu quả của găy xương do loăng xương: người bệnh tử vong trong ṿng 5 năm (20 %), người bệnh phải có người trợ giúp suốt cuộc đời c̣n lại (20 %), người bệnh bị tàn phế, phải phụ thuộc hoàn toàn vào người khác (30 %), chỉ có khoảng 30 % có thể hội nhập trở lại với cuộc sống xă hội nhưng vẫn luôn luôn bị nguy cơ tái găy xương ŕnh rập.

 

6. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH LÀ G̀?

 Loăng xương có thể phân thành hai loại:

Loăng xương tiên phát (do tuổi già) và Loăng xương thứ phát (do các yếu tố nguy cơ thúc đẩy).

Loăng xương do tuổi già là một tiến tŕnh mang tính quy luật của cơ thể, là một trong những bệnh lư rất thường gặp ở người có tuổi v́ ba lư do cơ bản sau:

1.      Các tế bào sinh xương (Osteoblasts) bị lăo hóa.

2.      Hạn chế sự hấp thu và chuyển hóa calci và vitamine D ở ruột.

3.      Suy giảm các hormon sinh dục (Oestrogen và Tetosterone), đặc biệt là hormon sinh dục nữ (Oestrogen của buồng trứng) làm cho các tế bào hủy xương (Osteoclasts) tăng hoạt tính.

Loăng xương thứ phát là loăng xương do các yếu tố nguy cơ, làm nặng thêm t́nh trạng Loăng xương do tuổi, có thể xảy ra ở người trẻ.

Các yếu tố nguy cơ của bệnh loăng xương

1.      Kém phát triển thể chất từ khi c̣n nhỏ, đặc biệt là C̣i xương, Suy dinh dưỡng, chế độ ăn thiếu Protid, thiếu Calci hoặc tỷ lệ Calci/Phospho trong chế độ ăn không hợp lư, thiếu vitamin D hoặc cơ thể không hấp thu được vitamin D... v́ vậy khối lượng khoáng chất đỉnh cuả xương ở tuổi trưởng thành thấp, đây được coi là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của bệnh loăng xương.

2.      Ít hoạt động thể lực (hoạt động thể lực thường xuyên sẽ giúp cho cơ thể đạt đươc khối lượng xương cao nhất lúc trưởng thành). 

3.      Sinh đẻ nhiều lần, nuôi con bằng sữa mẹ mà không ăn uống đủ chất đặc biệt là Protid và Calci để bù đắp lại.

4.      Bị các bệnh măn tính đường tiêu hóa (viêm loét dạ dầy, viêm ruột măn tính...) làm hạn chế hấp thu calci, vitamin D, protid...

5.      Có thói quen sử dụng nhiều rượu, bia, cà phê, thuốc lá… làm tăng thải calci qua đường thận và giảm hấp thu calci ở đương tiêu hóa (thường ở nam giới)

6.      Thiểu năng các tuyến sinh dục nam và nữ (suy buồng trứng sớm, măn kinh sớm, cắt buồng trứng, thiểu năng tinh hoàn…)

7.      Bất động quá lâu ngày do bệnh tật, do nghề nghiệp (những người du hành vũ trụ khi ở trong tàu vũ trụ đi ra ngoài không gian)... v́ khi bất động lâu ngày các tế bào hủy xương tăng hoạt tính.

8.      Bị các bệnh nội tiết: cường tuyến giáp, cường tuyến cận giáp, cường tuyến vỏ thượng thận, tiểu đường...

9.      Bị bệnh suy thận măn hoặc phải chạy thận nhân tạo lâu ngày gây mất nhiều calci qua đường tiết niệu.

10.   Mắc các bệnh xương khớp măn tính khác đặc biệt là Viêm khớp dạng thấp và Thoái hoá khớp.

11.   Do sử dụng một số thuốc: chống động kinh (Dihydan), thuốc chữa bệnh tiểu đường (Insulin), thuốc chống đông (Heparin) và đặc biệt là các thuốc kháng viêm nhóm Corticosteroid (Corticosteroid một mặt ức chế trực tiếp quá tŕnh tạo xương, mặt khác làm giảm hấp thu calci ở ruột, tăng bài xuất calci ở thận và làm tăng quá tŕnh hủy xương).

7. TRIỆU CHỨNG, DIỄN BIẾN VÀ BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH LOĂNG XƯƠNG NHƯ THẾ NÀO?

Người ta thường ví bệnh loăng xương giống như một tên ăn cắp thầm lặng, hàng ngày cứ lấy dần calci trong ngân hàng dự trữ xương cuả cơ thể con người. Khi có dấu hiệu lâm sàng, là lúc đă có biến chứng, thường cơ thể đă bị mất tới 30% khối lượng xương. Loăng xương đang được coi là một bệnh dịch âm thầm nhưng đang có xu hướng lan rộng khắp thế giới.

Biểu hiện lâm sàng:

·        Đau mỏi mơ hồ ở cột sống, đau dọc các xương dài (đặc biệt xương cẳng chân), đau mỏi cơ bắp

·        Đau thực sự cột sống, đau lan theo khoanh liên sườn, đau khi ngồi lâu, khi thay đổi tư thế. Có thể đau măn tính hoặc cấp tính sau chấn thương (găy xương cổ tay, găy lún đốt sống, găy cổ xương đùi…)

·        Gù lưng, giảm chiều cao

Biến chứng của loăng xương:

·        Đau kéo dài do chèn ép thần kinh

·        Găy xương cổ tay, găy lún đốt sống, găy cổ xương đùi

·        Ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng sống của người có tuổi.

 

8. LÀM THẾ NÀO ĐỂ PHÁT HIỆN SỚM BỆNH?

1.      Phát hiện các yếu tố nguy cơ gây loăng xương thứ phát (đă nêu trên).

2.      Đi khám bệnh sớm, ngay khi có các dấu hiệu đau mỏi mơ hồ ở cột sống, ở hệ thống xương khớp, dọc các xương dài (đặc biệt xương cẳng chân), đau mỏi cơ bắp, vọp bẻ… Các bác sĩ chuyên khoa sẽ cho kiểm tra:

·         Chụp Xquang xương hoặc cột sống

·         Đo khối lượng xương

·         Khám và phát hiện các yếu tố nguy cơ

3.      Khám bệnh và theo dơi định kỳ (tùy mức độ bệnh)

4.      Luôn có ư thức pḥng bệnh (suốt cuộc đời)

·         Chế độ sinh hoạt, tập luyện tăng cường hoạt động ngoài trời, tập vận động thường xuyên và phù hợp với sức khoẻ, duy tŕ lối sống năng động, tránh các thói quen xấu: uống nhiều ruợu, cafe, thuốc lá…

·         Chế độ ăn uống luôn luôn bảo đảm một chế độ ăn uống đầy đủ Protein và khoáng chất, đặc biệt là Calci. V́ vậy sữa và các chế phẩm từ sữa (Bơ, Phoma, Yaourt…) là thức ăn lư tưởng cho một khung xương khoẻ mạnh. Chế độ này cần đươc duy tŕ suốt cuộc đời mỗi người.

·         Kiểm soát tốt các bệnh lư ảnh hưởng và các yếu tố nguy cơ của bệnh

 

9. XỬ TRÍ NHƯ THẾ NÀO KHI CÓ BỆNH?

A. Mục tiêu điều trị bệnh loăng xương:

V́ những hậu quả nặng nề nêu trên, bằng mọi cách, việc điều trị loăng xương phải đạt tới hai mục tiêu cơ bản sau:

1.     Không để bệnh nhân loăng xương bị găy xương.

2.     Nếu đă bị găy xương do loăng xương, không để bị tái găy xương.

B. Chế độ ăn uống, sinh hoạt, tập luyện:

·         Chế độ ăn uống: luôn luôn bảo đảm một chế độ ăn uống đầy đủ Protein và khoáng chất, đặc biệt là Calci. V́ vậy sữa và các chế phẩm từ sữa (Bơ, Phomai, Yaourt…) là thức ăn lư tưởng cho một khung xương khỏe mạnh. Chế độ này cần đươc duy tŕ suốt cuộc đời mỗi người.

·         Chế độ sinh hoạt, tập luyện: tăng cường hoạt động ngoài trời, tập vận động thường xuyên và phù hợp với sức khỏe, tránh té ngă.

 

C. Chế độ điều trị:

·        Các thuốc chống hủy xương: Bisphosphonates (Alendronate, Risedronate…), Calcitonine từ cá hồi (Miacalcic), Hormon thay thế (Oestrogen, Androgen, các thuốc giống Hormon dùng để thay thế Hormon (Tibolone, Raloxifene…) là các điều trị tích cực nhằm ngăn chặn sự hủy xương và giúp cho cơ thể sử dụng tốt các “nguyên vật liệu” để duy tŕ và tái tạo một khung xương tốt. Mỗi loại thuốc trong nhóm này đều có những ưu điểm riêng, đều có thể sử dụng riêng lẻ hoặc phối hợp với nhau để tăng hiệu quả điều trị bệnh Loăng xương.

·        Các thuốc tăng tạo xương: Vitamin D hay chất chuyển hóa của vitamin D (Rocaltrol), các thuốc tăng đồng hóa (Duraboline, Deca-duraboline), vitamin K2 (Glakay)..,

·        Cung cấp bổ sung đầy đủ protein và khoáng chất Calci, Phospho cho cơ thể là cách điều trị cơ bản nhằm cung cấp những “nguyên vật liệu” để bổ sung cho xương khi mà chế độ ăn không đáp ứng đủ hoặc khi cơ thể không hấp thu được đầy đủ.

·        Nhu cầu Calci hàng ngày trung b́nh  ³ 500 mg cho người trưởng thành

                                                             ³ 1000 mg cho người 40 - 50 tuổi

                                                 ³ 1500 mg cho người  > 50 tuổi 

(Một ly sữa # 200 – 300 mg calci)

 

 
 

 


·         Nhu cầu Protein hàng ngày trung b́nh ³ 1 g/kg cân nặng (tương đương ³ 100 g thịt nạc, 200 g cá nạc).

 

10. PH̉NG NGỪA LOĂNG XƯƠNG NHƯ THẾ NÀO?

Khi đă bị loăng xương, phải điều trị tích cực và lâu dài. Các thuốc để  điều trị tích cực đều khá đắt tiền nên chi phí điều trị thường  quá cao so với mức sống của đa số nhân dân lao động. Chính v́ vậy việc pḥng ngừa bệnh có ư nghĩa rất lớn, cả về mặt hiệu quả   kinh tế.

1. Việc đầu tiên và quan trọng nhất là bảo đảm khối lượng khoáng chất đỉnh của bộ xương cao nhất lúc trưởng thành. Một người khỏe mạnh thường có khối lượng xương đỉnh cao nhất ở độ tuổi 20 - 30. Nếu khối lượng xương đỉnh tăng 10%, sẽ giảm được 50% nguy cơ gẫy xương do loăng xương trong suốt cuộc đời. V́ vậy, ngay từ hôm nay, hăy đầu tư cho xương của tất cả mọi người.

·        Bảo đảm một chế độ dinh dưỡng đầy đủ protein và khoáng chất cho các bà mẹ khi mang thai (để em bé có bộ xương “vốn liếng” tốt nhất), khi cho con bú (để đủ calci cho sự phát triển của bộ xương của trẻ ngay từ đầu). Sửa và các sản phẩm từ sữa là nguồn dinh dưỡng hoàn hảo nhất cho tất cả mọi người trong suốt cuộc đời.

·        Tạo dựng ngay từ đầu nếp sống năng động giúp cơ thể trẻ đạt mức phát triển tốt nhất.

2. Trong suốt cuộc đời, đầu tư cho xương của bạn bằng cách duy tŕ một chế độ dinh dưỡng hợp lư, một nếp sống lành mạnh, năng động, kết hợp hài ḥa giữa công việc hàng ngày, hoạt động thể lực, giải trí... ngay từ khi c̣n nhỏ, ngay từ khi c̣n trẻ, tránh các thói quen gây ảnh hưởng xấu tới chuyển hóa calci như: uống nhiều rượu, bia, cafe, hút thuốc, ăn kiêng quá mức, thụ động, ít vận động thể lực. Phấn đấu để sữa và các chế phẩm từ sữa phải có mặt trong khẩu phần ăn hàng ngày của tất cả mọi người. 

3. Phát hiện, điều chỉnh các yếu tố nguy cơ và kiểm soát chặt chẽ các thuốc điều trị. Nếu cần sử dụng lâu dài các thuốc chứa Corticosteroid, thuốc  chống co giật (Phenyltoin, Barbiturate...), thuốc tiểu đường… cần bổ sung ngay vitamin D và calci v́ các thuốc này ảnh hưởng đến chuyển hóa của vitamin D và calci.

4. Ở phụ nữ măn kinh một mặt tăng cường bổ sung calci, vitamin D, khuyến khích hoạt động thể lực và tập luyện ngoài trời, khuyến khích tham gia công tác và giao tiếp xă hội, mặt khác động viên và hướng dẫn chị em áp dụng liệu pháp hormon thay thế nếu có chỉ định và có điều kiện (điều kiện theo dơi, điều kiện kinh tế). Tốc độ mất xương sẽ cao nhất sau măn kinh từ 5 đến 7 năm, v́ vậy liệu pháp hormon thay thế rất cần được áp dụng sớm để ngăn ngừa Loăng xương sau măn kinh. Đây là nguyên nhân quan trọng nhất, mang lại hậu quả nặng nề nhất cho nhiều phụ nữ lớn tuổi.

Kết luận

Bệnh loăng xương và các biến chứng nặng như găy cổ xương đùi, găy xương cổ tay, găy xẹp đốt sống… là một gánh nặng đối với y tế cộng đồng. Bệnh ảnh hưởng nặng nề tới chất lượng cuộc sống của con người khi có tuổi đặc biệt là phụ nữ.

Tuy nhiên, pḥng bệnh sẽ kinh tế hơn chữa bệnh rất nhiều, đây là giải pháp tốt nhất cho mọi quốc gia, đặc biệt các nước nghèo. Hăy pḥng ngừa bệnh loăng xương bằng việc “đầu tư cho xương của bạn” và “đầu tư cho xương của con bạn”. Hăy bổ sung sữa và các sản phẩm từ sữa vào khẩu phần ăn hàng ngày của mọi người trong gia đ́nh bạn nếu có thể.  Đây cũng là đầu tư cho sức khỏe, việc làm này phải là trở thành ư thức tự giác của các thế hệ, của toàn xă hội, để cải tạo ṇi giống, để cải thiện thói quen ăn uống, sinh hoạt chưa hợp lư của phần lớn các nước đang phát triển ở châu Á như nước ta. Nếu khối lượng xương đỉnh tăng 10%, sẽ giảm được 50% nguy cơ găy xương do loăng xương trong suốt cuộc đời.